CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN

/ A / B / C / D / Ð / G / H / K / L / M / N / O / P / Q / R / S / T / U / V / X / Y /

 
MỤC LỤC
 

XÂY
XE

| XA | | XẢ | | XÁC | XANG | XANH | XAO | XẢO | XẠO | XẨN | XÂY |

Xây bàn:

  • A: The turning table, the tipping table.

  • P: La table tournante, la table frappante.

Xây: quay, xoay. Bàn: cái bàn.

Xây bàn là cái bàn bằng gỗ có thể lắc qua lắc lại (tức là xây qua xây lại theo chiều thẳng đứng), làm cho chưn bàn gõ nhẹ lên nền gạch phát ra tiếng cộp. Đây là một cách giao tiếp giữa người sống và các vong linh nơi cõi vô hình.

Cái bàn nầy bằng gỗ, không có gì đặc biệt, mặt bàn hình tròn, thường có 3 chân, 2 chưn bàn được chêm lên cao chừng 1 phân để bàn lắc qua lắc lại dễ dàng, gõ nhẹ xuống nền gạch phát ra tiếng cộp. Có ít nhứt là hai người ngồi vào bàn, đối diện nhau, mỗi người đặt hai bàn tay xòe ra úp lên mặt bàn, tịnh tâm chừng một lát thì bàn bắt đầu dao động, tức là có một vong linh nhập vào bàn.

Giữa người sống và vong linh có qui ước để hỏi đáp với nhau nhờ tiếng gõ của chưn bàn:

- Bàn gõ 1 tiếng là ừ, chịu; bàn gõ 2 tiếng là không.

- Cách ráp chữ: một người đọc vần: a ă â b c d đ e ê...... bàn gõ theo, mỗi vần mỗi gõ, khi bàn ngưng gõ là lấy chữ vần đó, thí dụ đọc tới chữ L bàn ngưng gõ, vậy lấy chữ L. Xong được một vần thì bắt đầu đọc vần trở lại, chừng nào bàn ngưng gõ thì lấy chữ đó. Sau cùng ráp lại thành từng tiếng, từng câu, từng bài.

Vì cái bàn lắc qua lắc lại, tức là xây qua xây lại theo chiều thẳng đứng, nên gọi là Xây bàn (Table tournante), khi xây, chưn bàn gõ nhẹ xuống nền gạch phát ra tiếng nên gọi là cái Bàn gõ (Table frappante) hay cái Bàn nói (Table parlante).

Việc Xây bàn nầy rất lâu mới được một bài văn, nhưng không có cách nào khác cho mau hơn.

Đây là cách giao tiếp giữa người sống và các vong linh theo khoa Thần Linh Học ở nước Mỹ, truyền qua Âu Châu, nước Pháp và đến Việt Nam. Văn Hào Victor Hugo lúc tị nạn chánh trị tại đảo Jersey, nhờ Bà Girardin biết cách xây bàn nầy, cùng với ông, tiếp xúc với các Đấng vô hình, nhận được nhiều bài Thánh giáo, mà sau nầy cho in ra phổ biến với tựa đề: "Chez Victor Hugo, Les Tables tournantes de Jersey" làm chấn động dư luận của các nước Âu Châu, vì từ lâu nay, họ phủ nhận linh hồn, chết là hết, không còn gì cả. Nhờ Victor Hugo và các phong trào Thần Linh Học, họ biết có thế giới vô hình, con người có linh hồn và khi chết thì linh hồn xuất ra khỏi thể xác, sống và hoạt động trong thế giới vô hình.

Tại Sài Gòn, Việt Nam, vào giữa năm 1925, có bốn vị: Cao Quỳnh Cư, Cao Quỳnh Diêu, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang thử nghiệm việc Xây bàn theo cách thức của Thần Linh Học Tây phương, với một cái bàn tròn ba chân tại nhà Ngài Cao Hoài Sang, và đạt được kết quả tốt đẹp. (Xem chi tiết về Xây bàn nơi chữ: Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư, vần Th)

Ông Vương Hồng Sễn lúc đó là một thanh niên, nghe đồn nơi nhà Ngài Cao Hoài Sang ở phố Hàng Dừa, gần chợ Thái Bình,mỗi đêm đều có Xây bàn nói chuyện với Tiên, nên ông Sễn đến xem và thử nghiệm, rồi ông viết một bài tường thuật, sau nầy cho đăng trong Tập báo Xuân Tự Do, năm Kỷ Hợi (1959). Chúng tôi xin chép nguyên văn bài nầy để cống hiến bạn đạo và làm tài liệu cho Ban Đạo Sử.

Trong bài nầy, ông Vương Hồng Sễn có dùng chữ Xây ghế không thích hợp lắm, nhưng chúng tôi tôn trọng tác giả nên vẫn để y, hơn nữa vào thời điểm đó, việc Xây bàn rất mới lạ.

"Năm 1925 tại Sài Gòn có phong trào Xây Bàn, sau đổi qua Cầu Cơ thỉnh Tiên và cầu người khuất mặt xuống bút dạy việc vị lai.

Ban đầu có một nhóm thi hữu họp nhau mỗi tối để mời chiếc ghế, chiếc bàn lên, cùng nhau đàm luận thế sự.

Bài thơ sau đây nhơn xây ghế đêm 25 tháng 7 năm 1925 mà được. Ghế gõ tên xưng là CAO QUỲNH TUÂN, sanh tiền làm Cai Tổng, là thân sinh của ông Cao Quỳnh Cư (Chức sắc lớn Đạo Cao Đài quá vãng từ lâu, nay còn tạo hình thờ trên TTTN).

Ông Cao Quỳnh Tuân vốn là một thi nhân thuở cựu trào. Khi ghế lên, gõ được câu nào là ông Cư động lòng khóc sùi sụt, khách bàng quan cũng ngậm ngùi theo.

Tôi nay hậu sanh, nhơn có công chịu khó chép để dành từ năm 1925, gặp buổi đầu niên, xin kính gởi vào Tập Xuân Kỷ Hợi Tự Do, để đánh dấu một thời gian và một nhơn tâm đã qua.

Bài thơ ấy như vầy:

Ly trần tuổi đã quá năm mươi,
Mi mới vừa nên ước đặng mười.
Tổng mến lời khuyên bền mộ chép,
Tình thương câu dặn gắng tâm dời.
Bên màn đôi lúc trêu hồn phách,
Cõi thọ nhiều phen đặng thảnh thơi.
Xót nỗi vợ hiền còn lụm cụm,
Gặp nhau nhắn nhủ một đôi lời.

Tiếp qua đêm 30 tháng 7, cũng nhóm thi hữu ấy xây ghế được bài thi như sau:

Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai,
Mạng bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào dè phủi nợ xuống tuyền đài.
Dưỡng sanh cam lỗi tình sông núi,
Tơ tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn dập tương tư oằn một gánh,
Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai.

Được bài thơ, các thi hữu hỏi tác giả là ai? thì bàn gõ tên: "Đoàn Ngọc Quế", sanh trưởng tại Chợ Lớn, con một, chết vì tình, thôi học từ năm 15 tuổi, thác hồi 18 tuổi.

Nhiều người theo dõi cuộc xây ghế hầu chuyện với Tiên và hồn ma năm 1925. Về sau nhiều vị trong nhóm thi xã trở nên Chức sắc lớn trong Đạo Cao Đài.

Nhờ một bạn hữu, tôi thấy hai bài thơ trên đây và thường nghe chung quanh trầm trồ mãi đó là thơ ma do Xây ghế mà có.

Tôi ao ước đặng thấy tận mắt mới hả lòng. Đến thứ sáu 31 tháng 7, vừa lãnh lương, anh em rủ nhau ăn cơm nhà hàng Yong Yeng là một quán cơm tây sang trọng thời ấy. Mãn tiệc, rượu còn ngà ngà say, có bạn đề xướng đi coi xây ghế. Còn dịp nào hơn! Cùng đi với tôi là hai ông: Nguyễn Văn Xuân và Đoàn Ngọc Quế. - Xuân, cùng với tôi làm Thơ ký tập sự chung một sở tại Trường máy, đường Đỗ Hữu Vị, nay là trường dạy Bách Khoa Kỹ Nghệ đường Huỳnh Thúc Kháng, hai đứa vẫn chưa vợ, và chỗ nào vui là có đến góp mặt, phá đám nhiều hơn là giúp ích. - Đoàn Ngọc Quế, chúng tôi quen tặng là Đoàn Thúc thì làm Thông Phán trên Phòng Nhì, dinh Thượng Thơ, nay đã quá vãng.

Tới nơi, xuống xe kéo, vào trước, hiện có một căn phố trệt lối chợ Thái Bình, xóm nầy nay đã thay đổi rất nhiều, không còn nhìn ra chỗ cũ. Trước dãy phố là một bãi cỏ rậm, lơ thơ vài cây dừa lão, gió đưa lá phất phơ trên nền trời thâm như tóc ma dà duột. Vì vậy, nếu tôi không lầm, phố nầy có tục danh là "dãy phố hàng dừa".

Vừa đến nơi thì ghế xây đà lâu hoắc, chúng tôi vội tiếp tay cho ghế mau lên.

Nói là ghế, chớ đó là một cái bàn gỗ một trụ ba chân, mặt tròn lối 6 tấc tây bề trực kính, bề cao cũng cỡ ấy. Khách ngồi chung quanh đã có 4 hay 5 người, tôi không nhớ rõ, với 3 chúng tôi nữa là rậm đám lắm, những bàn tay để khít gần giáp chu vi bàn, cả thảy ngồi chùm nhum đâu mặt nhau. Chưa đầy 10 phút, xảy bàn chuyển động, ba cây nhang cắm giữa rung rung như báo tin sắp có chuyện bất thường. Trong nhà, đồng hồ khoan thai đưa ra chín tiếng (9 giờ tối). Ngoài hiên, đèn thì tắt cho cảnh thêm u tịch.

Trời chuyển mưa, trăng lu mờ, khi hiện khi khuất trong những đám mây tối đen, rất phải buổi tiếp chuyện cùng âm hồn. Một trận gió lạnh tốc mấy ngọn dừa nghe như tiếng quét trên lược gãy răng!.... Chúng tôi mảng còn suy nghỉ đâu đâu thì bàn chuyển động. Mấy tiếng gõ ra là để xưng tên.

Theo lệ đã sẵn, các thi hữu quen tay quen việc, nên không mất thi giờ là bao, bàn hoặc gõ từng tiếng một, hoặc gõ một hơi một mạch, cứ đếm một tiếng là A, hai tiếng là B, mười tiếng là K, v.v.... Bàng quan mỗi lần nghe bàn gõ thì đếm, đếm số rồi khi bàn dừng lại thì ngoài nầy có một người ngồi riêng, thủ vai thư ký, gia công biên số tiếng gõ, dịch ra từng chữ một. Khi đủ 7 chữ, một câu thơ, thì hô lớn đọc rõ câu ấy lại, xin bàn cho biết có quả như vậy chăng. Xong rồi tiếp tục như cũ.

Bàn xưng "Đoàn Ngọc Quế Tiểu thơ".

Đến đây, người anh cả chúng tôi là Đoàn Thúc vấn nạn. Đoàn Thúc hỏi chẳng hay trong nhóm hôm nay có người nào trùng danh tánh, trùng tự với Tiểu thơ chăng? thì lập tức cái bàn nghiêng nghiêng qua phía Đoàn Thúc ngồi, gõ một tiếng mạnh cộp. Tôi cũng chưa lấy làm lạ cho lắm, thoạt anh bạn Nguyễn Văn Xuân công kích cách khác và xin hỏi cái bàn rằng: nội trong bọn có người nào mới lạ chăng? thì liền đó bàn trả lời có và đánh vần gõ thật nhanh tên người là chẳng ai khác hơn là "S Ễ N".

Thật quái! Thật lạ!

Vả chăng trong nhóm đêm ấy, tôi chưa được giới thiệu, mà tên tôi đã là một quái gở, ngoài hai bạn thân là ông Quế và ông Xuân thì dễ gì biết được! Tôi xin chịu thua, từ chỗ bán tín bán nghi, qua chỗ xiêu xiêu tin tưởng ma quỉ rất gần.

Bàn gõ khoan thai yểu điệu quả là một tánh nết Tiểu thơ khuê các. Khi nào không muốn trả lời một câu quá tọc mạch thì bàn nghiêng nghiêng qua một bên nhưng không gõ, ba cây nhang rung rung như bất bình, thật là một dáng điệu một cô gái sanh tiền ắt chuyện chi trái ý không để vào tai.

Lần hồi trong đêm đó, chúng tôi hỏi về gia đạo của cô và hỏi cô đau bịnh chi mà thác. Cô cho bài thơ như sau:

Trời già đành đoạn nợ ba sinh,
Bèo nước xẻ hai một gánh tình.
Mấy bữa nhăn mày làm chước quỉ,
Khiến ôm mối thảm lại Diêm đình.

Thú thiệt tôi bình sanh có tánh sợ ma, nhưng ma nầy tôi lại muốn gặp.

Vì trời đã khuya, thêm nhà tôi ở đậu có lệ không mở cửa cho kẻ về quá giờ, nên buộc lòng tôi phải cáo lui.

Khỏi nói, đêm ấy tôi về ngủ không được.... Sau nghe lại, khi chúng tôi ra về, bàn còn làm bài thơ như sau: cũng do cô Đoàn Ngọc Quế lên và đây là lời cô trách người bạn năm xưa, nay đã có đôi bạn khác:

Người thì Ngọc mã với Kim đàng,
Quên kẻ dạ đài nỗi thảm mang.
Mình dặn lấy mình, mình lại biết,
Mặc ai chung hưởng phận cao sang!
                 ĐOÀN NGỌC QUẾ

Cũng trong tháng 8 năm 1925, ông Phạm Công Tắc khi đó còn làm việc Sở Thương Chánh Sài Gòn, có họa vận bài thơ tự tình của cô Đoàn Ngọc Quế:

Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
Trời xanh vội lấp nữ anh tài.
Tình thâm một gánh còn dương thế,
Oan nặng ngàn thu xuống dạ đài.
Để thảm xuân đường như ác xế,
Gieo thương lữ khách ngóng tin mai.
Hềm gì chưa rõ đầu đuôi thế,
Ngẩn bút hòa thi tủi phận ai!
                 PHẠM CÔNG TẮC

Câu ba và câu bảy trùng một chữ "thế", vì lâu quá tôi không nhớ rõ có phải nguyên văn như vậy hay chăng. Nay xin giữ y để chờ hậu cứu.

Đồng thời, ông Cao Hoài Sang (nay làm đầu trên Tòa Thánh Tây Ninh) khi ấy còn là một thanh niên xuất thân trường Sư Phạm "Sở Cọp" cũng làm việc Sở Thương Chánh Sài Gòn, nức tiếng là một thi sĩ tài ba, ít ai bì kịp, đàn giỏi thi hay, ông Cao Hoài Sang ra cho bàn một bài thơ như vầy, mời họa vận:

            TỰ THUẬT
Sầu dài ngày vắn dễ chi vui,
Toan tính thâu đêm ruột rối nùi.
Ngược gió thuyền đầy cơn sóng dập,
Xuôi dòng nước lớn giạt bèo trôi.
Bước đường danh lợi thêm gay trở,
Ngảnh lối tang thương luống ngậm ngùi.
Lần lửa xuân hè năm tháng lụn,
Thôi thôi đến thế, thế thì thôi.
                 CAO HOÀI SANG

Qua đêm 21 tháng 8, bàn họa vận lại như vầy:

Chung tình đoạn gánh khó làm vui,
Lần gỡ chưa xong chỉ rối nùi.
Lời hẹn xưa còn vầng nguyệt chứng,
Hương thề nay thả giữa dòng trôi.
Kim rời cải rụng lòng ngao ngán,
Đá nát vàng phai dạ ngậm ngùi.
Một khối tuyền đài tình khó dứt,
Ráp gương kiếp khác quyết chờ thôi.
                 ĐOÀN NGỌC QUẾ

Trong bài thơ có hai chữ "TÌNH" câu phá và câu thúc, thế là trùng tự. Hỏi, bàn gõ ra chữ "Permis" (cho phép) làm khách bàng quan ngạt lối, tôi cũng cứ chép y ra đây chờ nghe dạy. Cũng khi đó, Cô Đoàn cho thêm một bài Tự Tình nữa như sau:

Duyên gì chưa hiệp lại chia phui,
Căn dặn nghĩ thôi luống sụt sùi.
Tấm mẳn tuy chưa cơn mặn lạt,
Tình nồng chi xiết đỗi buồn vui.
Lời nguyền xưa có vầng trăng chiếu,
Câu hẹn nay đành giọt nước trôi.
Đổ lụy tương tư đêm đứt nối,
Nỗi niềm ai thấu hỡi ai ôi!
                 ĐOÀN NGỌC QUẾ

Qua đêm 22 tháng 8, nhằm tối thứ bảy, Cô Đoàn lên rồi nhường chỗ cho một nữ sĩ tên Hớn Liên Bạch tiếp lời, hạ một bài thơ gọi là "TIỄN BIỆT TÌNH LANG" như sau:

Chia gương căn dặn buổi trường đình,
Vàng đá trăm năm tạc tấm tình.
Bước rẽ ngùi trông cơn ác xế,
Lời trao buồn nhớ lối trăng thinh.
Ngày chờ mây án ngàn dâu khuất,
Đêm bặt đèn khuya một bóng (nhìn) chinh.
Mờ mệt non vu ngơ ngẩn luống,
Dặm dâu cách bức nghĩa dâu khinh.

Qua đêm 25 tháng 8, Cô Hớn Liên Bạch nhập bàn lên, xin đổi hai câu thất bát lại như vầy:

Lần lựa cô phòng xuân thỏn mỏn,
Xa xôi ai thấu nỗi đinh ninh.

Cũng trong đêm 25 tháng 8, bàn lên một hồn nhập vô xưng hiệu "Thanh Sơn 48 tuổi, người tỉnh Long Hồ", nhơn hỏi có điều chi dạy bảo, ông cho bài thi nầy:

THANH SƠN TỰ THUẬT THẾ SỰ:
Âm Dương tuy cách cũng trời chung,
Thấy trái nên đây mới tỏ cùng.
Thắt dạ thuyền xưa không đậu bến,
Đau lòng hạc cũ chẳng về tùng.
Cúi đầu đành chịu thân trăm tuổi,
Ngước mặt trơ trông bặt chín trùng.
Mạnh yếu há ngồi cam phải vậy,
Hay chi cá chậu với chim lồng.

Rồi ông tiếp một bài thi nữa:

Chim lồng bao thuở lại non xanh,
Ngóng mắt trông vơi chốn thoát mình.
Dựng nước không ai tài tướng lược,
Liều mình thiếu kẻ đáng hùng anh.
Vầy thuyền chi sợ cơn giông tố,
Hiệp chủng còn hơn cuộc chiến tranh.
Thìn dạ chờ châu về Hiệp Phố,
Nỗi mình sự nghiệp mối tan tành.
                 THANH SƠN

Hai bài nầy, nên nhớ làm vào năm 1925 nhưng đã xoay qua quốc sự, tôi chép hồi đó làm sao, nay sao lục làm vậy, cũng không dám thêm bớt, mặc tình chư quân tử nghiệm xét.

Sau rốt là ba bài tứ tuyệt, hai bài đầu tôi không nhớ rõ của người sống làm ra và họa vận nhau chơi, hay là thơ xây ghế mà được. Bài thứ ba của ông Cao Quỳnh Cư làm đêm mùng 1 tháng 9 năm 1925.

Bài thứ nhứt của Nhàn Âm Đạo Trưởng:

Rừng tòng ngày tháng thú quen chừng,
Nhướng mắt dòm coi thế chuyển luân.
Rượu cúc một bầu trăng gió hứng,
Non sông dạo khắp lối đêm xuân.

Thơ đề ngày 31 tháng 8 xưng Nhàn Âm Đạo Trưởng, có một giọng thoát tục, câu chót rõ là của người khuất mặt, muốn nói Tiên hay ma cũng được.

Bài thứ nhì họa nguyên vận bài trên:

Sống thác từ xưa đã có chừng,
Nơi trần mảng tính trọn nhơn luân.
Đò đưa phút chịu vùi ba tấc,
Tay trắng phủi rồi một tuổi xuân.
             (31-9-1925) CAO XUÂN LỘC

Bài thư ba họa y nguyên vận:

Cõi thọ là đâu khó độ chừng,
Ẩn tàng lội lạc bậc kinh luân.
Buổi già ước đặng đem thân gởi,
Biển Thánh ráng dò lúc tuổi xuân.
             (1-9-1925) CAO QUỲNH CƯ

Câu chuyện xây ghế được thơ cách nay đã ba mươi bốn năm, coi vậy mà mau quá, nhiều người còn nhớ, thêm giấy mực làm chứng rành rành. Trải qua cuộc loạn ly "Nhựt chạy, Tây lui", tài liệu văn chương mất mát quá nhiều.

Tôi may giữ lại được năm mớ, buổi xuân đầm ấm, xin mượn đó làm chút lễ thành gọi quà Tân niên, kính dâng quí độc giả báo Tự Do cộng thưởng.

VƯƠNG HỒNG SỄN

TTTN: Tòa Thánh Tây Ninh.

Xem tiếp: Xe Như ý

 
 
XA
XE
XI
XO
XU

[ Hình bìa ]
[ Mục lục ]

Last changed: 19-01-2005