Nam giản - Đông sàng:
Nam: Phương Nam, nước VN, người VN. Giản: suối. Đông: hướng Đông. Sàng: giường.
Nam giản là khe suối phía Nam, chỉ người con dâu hiền thảo và đảm đang, nên thường nói là: Dâu Nam giản.
Đông sàng là giường phía Đông, chỉ người rể quí, nên thường nói: rể Đông sàng.
Điển tích:
1. Dâu Nam giản: Bài thơ Thái Tần trong Kinh Thi khen ngợi người vợ đảm đang việc nội trợ, khi cúng bái tổ tiên, đi hái các thứ rau mọc chỗ nước trong để làm đồ ăn dâng cúng.
| |
Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân,
Vu dĩ thái tảo, vu bỉ hàng lạo. |
| Nghĩa là: |
Đi hái rau tần, ở bờ khe phía Nam.
Đi hái rau tảo, bên lạch nước kia. |
Theo phong tục người Tàu thì họ thường dùng rau tảo và rau tần để làm giỗ cúng Tổ Tiên.
Tách riêng hai chữ Nam giản để chỉ người vợ đảm đang, hiếu thảo, biết lo lắng công việc gia đình.
2. Rể Đông sàng: Đời nhà Tấn bên Tàu, có quan Thái Úy tên là Khước Giám, muốn chọn một người rể xứng đáng cho con gái của mình, nên cho người nhà đến trường học của ông Vương Đạo, để xem trong đám học trò của ông Vương Đạo có người nào xứng đáng không?
Sau đó, người nhà trở về báo cáo với Thái Úy rằng:
- Học sinh giỏi thì đông, người nào nghe đến việc Thái Úy kén rể thì đều sửa soạn quần áo tươm tất, ganh đua nhau ra dáng nề nếp, chỉ có một chàng học trò không để ý đến việc đó, phanh áo nằm tréo chân nơi giường phía Đông.
Thái Úy Khước Giám bảo:
- Trò đó mới đáng là rể của ta.
Tên chàng học trò đó là Vương Hy Chi, học rất giỏi, có tài viết chữ đẹp, sau làm quan đến chức Hữu Quân.
Do điển tích nầy, người ta dùng từ ngữ Đông sàng để chỉ chàng rể xứng đáng, tài giỏi.

Xem tiếp: Nam giao