Kệ U Minh chung:
Kệ: Những bài thi ngắn hay dài: hoặc để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một bài kinh, hoặc để răn dạy đệ tử, hoặc để cầu nguyện. U: tối tăm. Minh: mờ. Chung: tiếng chuông.
Cõi U Minh là cõi tối tăm mờ mịt, khi xưa thường nói là U Minh Địa phủ, Âm phủ, Địa ngục, Phong Đô, là cõi của linh hồn người chết; ngày nay Đạo Cao Đài gọi là cõi Âm Quang, là nơi để các tội hồn đến đó để tự xét mình, xem xét các tội lỗi trong kiếp sanh vừa qua để ăn năn sám hối, cầu xin Đức Chí Tôn cứu vớt. (Xem chi tiết nơi chữ: Âm quang, vần Â).
Kệ U Minh chung là bài kệ ngâm lên kèm theo tiếng chuông thấu đến cõi Âm Quang để thức tỉnh các chơn hồn tội lỗi, biết ăn năn sám hối tội tình, cầu nguyện Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, và các Đấng thiêng liêng cứu vớt.
Hằng năm, suốt trong 3 tháng của 3 nguơn: Tháng giêng (Thượng nguơn), tháng 7 (Trung nguơn) và tháng 10 (Hạ nguơn), nơi các Thánh Thất và Điện Thờ từ trung ương đến các địa phương đều cử người thường trực luân phiên ngâm kệ và dộng chuông U Minh suốt ngày đêm từ ngày mùng 1 cho đến ngày 30 cuối tháng mới chấm dứt.
Bài Kệ U Minh Chung gồm cả thảy 34 câu cầu nguyện, xin chép ra và giải thích từng câu sau đây:
1. Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm.
Bắt đầu dộng vào cái chuông lớn và cao giọng ngâm bài kệ quí báu.
Hồng chung: cái chuông lớn. Sơ: bắt đầu. Khấu: gõ chuông. Bảo kệ: bài kệ quí. Cao ngâm: cất cao giọng ngâm bài kệ.
2. Thượng thông Thiên đàng, hạ triệt Địa phủ.
Ở trên thì thông suốt đến các cõi Trời, ở dưới thì thấu suốt đến cõi Âm Quang.
Thiên đàng: Thiên đường, các cõi Trời. Triệt: thấu triệt, thông suốt. Địa phủ: chỉ cõi Âm Quang.
3. Khánh chúc Tam Kỳ hoằng khai Đại Đạo.
Chúc mừng ĐĐTKPĐ mở rộng cửa truyền bá khắp nơi.
Khánh chúc: chúc mừng. Hoằng khai: mở rộng ra.
4. Càn Khôn đại thống, phổ cập Ngũ Châu.
Thống quản toàn cả CKTG, phổ cập khắp cả Năm Châu.
Càn Khôn: Trời Đất, tức là CKVT hay CKTG. Đại thống: thống quản tất cả. Phổ cập: đều khắp mọi nơi. Ngũ Châu: 5 Châu, chỉ toàn thế giới.
5. Ân đức hóa thâm cao thăng đạo vị.
Ơn đức giáo hóa sâu đậm làm tăng cao phẩm vị trong Đạo.
Hóa: giáo hóa. Thâm: sâu. Cao thăng: tiến vượt lên cao. Đạo vị: phẩm vị trong Đạo.
6. Tam thế tứ sanh chi nội các miễn luân hồi.
Thời gian ba đời, tất cả các loài sanh vật nội trong Tứ sanh đều khỏi phải luân hồi chuyển kiếp.
Tam thế: 3 đời: quá khứ, hiện tại, tương lai. Tứ sanh: 4 loài sanh vật, chia theo cách sanh: Thấp sanh, Hóa sanh, Noãn sanh, Thai sanh. Thấp sanh là sanh ra ở nơi ẩm thấp như trùng, dế. Hóa sanh là sanh ra do sự biến hóa như ruồi, muỗi. Noãn sanh là sanh ra bằng trứng như gà, vịt, chim. Thai sanh là sanh ra bằng thai như bò, trâu, chó, mèo, người. Chi nội: ở trong. Các: tất cả. Miễn: khỏi.
7. Cửu U thập loại chi trung tất ly khổ hải.
Mười loại chơn hồn trong chín cửa Địa ngục ắt hẳn lìa khỏi biển khổ.
Cửu U: 9 cõi tối tăm. Đó là 9 cửa Địa ngục giam giữ và trừng trị các tội hồn, còn cửa Địa ngục thứ 10 do Chuyển Luân Vương cai quản xem xét việc cho các hồn đi đầu thai. (Xem chữ: Cửu U, vần C; Địa ngục, vần Đ). Thập loại: 10 loài. Đây là 10 loại chơn hồn nơi cõi Địa ngục, do những cách chết khác nhau nơi cõi trần. Thi hào Nguyễn Du có làm bài văn tế Thập loại chúng sinh là để cúng tế và cầu siêu cho 10 loại vong hồn nầy, kể ra: - Trận bại (chết vì bại trận), - Thương vong (bị thương chết), - Tự vận (tự đâm cổ chết), - Tự ải (tự thắt cổ chết), - Tự tử (tự giết mình chết), - Tự trầm (tự mình nhảy xuống sông chết), - Hỏa thiêu (chết cháy), - Xà thương (chết vì rắn độc cắn), - Hổ giảo (chết vì cọp ăn thịt), - Trầm nịch (chết vì bị chìm tàu, ghe).
Chi trung: ở trong. Tất: ắt hẳn. Ly: lìa xa. Khổ hải: biển khổ. Ý nói những nỗi đau đớn khổ sở nhiều như nước biển.
8. Ngũ phong thập võ miễn tạo cơ cẩn chi tai.
Năm gió mười mưa xin miễn tạo ra tai nạn mất mùa.
Ngũ phong: 5 gió, ý nói các thứ gió ở các hướng. Thập võ: 10 thứ mưa, ý nói các thứ mưa lớn nhỏ. Miễn tạo: khỏi phải tạo ra. Cơ: mất mùa lúa. Cẩn: mất mùa rau. Cơ cẩn chi tai: tai nạn mất mùa.
9. Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt.
Đất đai trong nước đều thấm nhuần thời thái bình an lạc.
Mẫu: một mẫu đất. Nam mẫu: chỉ đất ở phía Nam. Giao: đất ngoại thành. Đông giao: đất ngọai thành phía Đông. Nam mẫu Đông giao là ý nói đất đai trong nước. Cu: còn đọc là Câu: toàn, đều. Triêm: thấm ướt. Nghiêu Thuấn chi nhựt: ngày Nghiêu Thuấn. Dưới triều vua Nghiêu và Thuấn, dân chúng sống trong thái bình, hạnh phúc, thạnh vượng. Ngày Nghiêu Thuấn là thời thái bình an lạc.
10. Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh.
Việc chiến tranh ngưng lại lâu dài.
Can qua: cái khiên và cây giáo, chỉ việc chiến tranh. Vĩnh: lâu dài. Tức: ngưng lại. Giáp mã: áo giáp và ngựa, chỉ việc chiến tranh. Hưu: nghỉ. Chinh: đánh nhau, chinh chiến.
11. Trận bại thương vong cụ sanh tịnh độ.
Những người chết vì bại trận bị thương tích đều được sanh về cõi CLTG.
Trận bại: thua trận. Thương vong: chết vì bị thương tích. Cụ: đầy đủ. Tịnh độ: cõi đất tinh sạch của Phật. Cõi tịnh độ là cõi CLTG do Đức Phật A-Di-Đà làm Giáo chủ.
12. Phi cầm tẩu thú la võng bất phùng.
Chim bay thú chạy không gặp lưới rập đánh bắt.
Phi cầm: loài chim bay. Tẩu thú: loài thú chạy. La: lưới. Võng: lưới. La võng: chỉ chung các loại lưới của thợ săn giăng ra để bắt chim muông hay thú vật. Bất phùng: không gặp.
13. Lãng tử cô nhi tảo hồi hương lý.
Kẻ lang thang, trẻ mồ côi sớm trở về quê hương xứ sở.
Lãng tử: kẻ sống lang thang rày đây mai đó. Cô nhi: trẻ mồ côi. Tảo: sớm. Hồi: đi trở về. Hương: làng. Lý: nơi ở. Hương lý là quê hương.
14. Vô biên thế giới Địa cửu Thiên trường.
CKTG rộng rãi vô biên, Trời Đất trường cửu.
Vô biên: không biên giới. Địa cửu Thiên trường: Thiên Địa trường cửu, Trời Đất bền vững lâu dài.
15. Viễn cận đàn na tăng viên phước thọ.
Những người bố thí ở xa cũng như ở gần đều được gia tăng hạnh phúc và sống lâu.
Viễn: xa. Cận: gần. Đàn-na: đây là tiếng phiên âm từ tiếng Phạn có nghĩa là: thí chủ, người bố thí. Tăng: thêm. Viên: tròn, đầy. Phước: may mắn tốt lành. Thọ: sống lâu.
16. Thánh tòa trấn tịnh, đạo pháp trường hưng.
Tòa Thánh được gìn giữ yên tịnh, đạo pháp hưng thạnh lâu dài.
Trấn: gìn giữ. Tịnh: yên tịnh. Trường: lâu. Hưng: thạnh.
17. Thổ Địa Long Thần an tăng hộ pháp.
Các vị Thần Thổ Địa, các vị Long Thần giúp yên cho người tu hành và hộ trì Đạo pháp.
Thổ Địa: các vị Thần đất, cai quản đất đai. Long Thần: các vị Thần Rồng. An: làm cho an ổn. Tăng: người xuất gia tu hành. Hộ: gìn giữ. Pháp: pháp luật của Đạo.
18. Phụ mẫu, sư trưởng, lục thân quyến thuộc, lịch đại tiên vong đồng đăng giác ngạn.
Cha mẹ, bậc thầy và người trên trước, sáu người thân yêu trong thân tộc, Tổ Tiên đã chết qua nhiều đời, cùng đi lên bờ giác ngộ, giải thoát khỏi luân hồi.
Phụ mẫu: cha mẹ. Sư: thầy. Trưởng: người trên trước. Lục thân: 6 người thân yêu: cha, mẹ, vợ, con, anh, em. Quyến thuộc: người thân yêu trong nhà. Lịch: trải qua. Đại: đời. Tiên vong: Tổ tiên đã chết. Đồng: cùng. Đăng: đi lên. Giác ngạn: bờ giác ngộ.
19. Nam mô Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.
20. Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
21. Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.
22. Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
23. Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
24. Nam mô Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai.
25. Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
26. Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
27. Nam mô Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn.
28. Nam mô Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp ThiênTôn
29. Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.
30. Nam mô Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.
Thập phương chư Phật: chư Phật ở 10 phương. 10 phương đó là: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, phương trên và phương dưới. Vạn chưởng: Vạn chủng, nghĩa là muôn loài. Vạn chủng chư Tiên: các vị Tiên bao gồm nhiều cấp bực, ở khắp các nơi. Liên đài: tòa sen. Liên đài chi hạ: phía dưới tòa sen. Tòa sen là đài ngự cho Bồ Tát và Phật. Đứng dưới tòa sen là chỉ các vị Thánh và Thần, ở cấp bực thấp hơn Phật và Bồ Tát.
Câu 30: Cầu nguyện chư Thần, Thánh, Tiên, Phật ở khắp các nơi trong CKVT.
Các câu cầu nguyện từ câu 19 đến câu 30 giống như trong Sớ Văn thượng tấu. Trước hết là cầu nguyện Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu, kế đó cầu nguyện Tam Tông Chơn Giáo, Tam Trấn Oai Nghiêm, rồi cầu nguyện với Giáo Chủ Thánh đạo và Thần đạo, cầu nguyện với Đức Hộ Pháp và cuối cùng cầu nguyện chung với tất cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
31. Nam mô Sơ Hội Long Hoa Thanh Vương Đại Hội, Nhiên Đăng Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.
32. Nam mô Nhị Hội Long Hoa Hồng Vương Đại Hội, Di-Đà Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.
33. Nam mô Tam Hội Long Hoa Bạch Vương Đại Hội, Di-Lạc Cổ Phật Chưởng Giáo Thiên Tôn.
Ba câu kệ: 31, 32, 33 cho chúng ta biết được từ trước tới nay có 3 thời kỳ phổ độ, ứng với 3 lần Đại Hội Long Hoa.
* Nhứt Kỳ Phổ Độ với Sơ Hội Long Hoa gọi là Thanh Vương Đại Hội, có Đức Nhiên Đăng Cổ Phật làm Giáo Chủ.
* Nhị Kỳ Phổ Độ với Nhị Hội Long Hoa gọi là Hồng Vương Đại Hội, có Đức A-Di-Đà Phật làm Giáo Chủ.
* Tam Kỳ Phổ Độ với Tam Hội Long Hoa gọi là Bạch Vương Đại Hội, có Đức Di-Lạc Vương Phật làm Giáo Chủ.
Sơ Hội: Hội kỳ đầu, tức là lần thứ nhứt. Nhị Hội: Hội lần thứ nhì. Tam Hội: Hội lần thứ ba.
Dùng 3 màu: Thanh, Hồng, Bạch để chỉ thứ tự 3 thời kỳ Đại Hội là căn cứ theo sự sanh trưởng của vạn vật trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, với màu sắc tương ứng theo Ngũ Hành.
- Nhứt Kỳ Phổ Độ, vào thời vua Phục Hy bên Tàu, ví như cây cỏ đang lớn lên tươi tốt trong mùa Xuân. Xuân chủ về Mộc, sắc của Mộc trong Ngũ Hành là màu xanh (Thanh), nên thời kỳ nầy mở ra THANH VƯƠNG Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh Chủ Khảo hội nầy là Đức Nhiên Đăng Cổ Phật.
- Nhị Kỳ Phổ Độ, vào thời nhà Châu bên Tàu, ví như cây cỏ đang vào mùa Hạ, đang trổ hoa đặng bắt đầu kết trái. Hạ chủ về Hỏa, sắc của Hỏa là màu đỏ (Hồng), nên thời kỳ nầy mở ra HỒNG VƯƠNG Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh Chủ Khảo hội nầy là Đức A-Di-Đà Phật.
- Tam Kỳ Phổ Độ, vào thời hiện nay, ví như cây cỏ kết trái vào mùa Thu. Mùa Thu chủ về Kim, sắc của Kim theo Ngũ Hành là màu trắng (Bạch), nên thời kỳ nầy mở ra BẠCH VƯƠNG Đại Hội. Đức Phật ứng vận làm Chánh Chủ Khảo là Đức Di-Lạc Vương Phật.
Vạn vật chỉ có sanh khí vào 3 mùa đầu trong năm: Xuân, Hạ, Thu. Qua mùa Đông thì vạn vật điêu tàn vì không có sanh khí. Do đó, sách xưa viết: Xuân sanh, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông tàn. (Mùa Đông chủ về Thủy, sắc của Thủy là màu đen).
Cho nên chỉ có 3 thời kỳ: Thanh Vương, Hồng Vương, Bạch Vương, không có Hắc Vương vì Hắc Vương là tử kỳ (thời kỳ điêu tàn: chết).
Trong hai thời kỳ: Thanh Vương và Hồng Vương, người tu phải xuất gia, tu hành khổ hạnh.
Qua thời kỳ Bạch Vương, Đức Chí Tôn Thượng Đế mở Đạo phổ truyền Tâm pháp tu hành, lại ban cho Đại Ân Xá, nên dầu tại gia hay xuất gia đều tu hành được cả, và người tu đều có thể đắc đạo tùy theo công quả Phụng Sự nhơn sanh. Chẳng những thế, những người tu trong 2 thời kỳ trước mà chưa đắc quả, kể cả quỉ nhân, nếu trong thời Bạch Vương nầy mà lập được nhiều công quả thì sẽ đắc đạo. Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại CKTG, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng. (TNHT)
34. Nam mô liệt Thánh đàn tràng hòa nam khể thủ.
Cầu nguyện với chư vị Thánh nơi đàn cúng tế nầy chứng minh, xin cúi mình lạy xuống.
Liệt Thánh: đồng nghĩa chư Thánh. Đàn tràng: đàn cúng tế có đông người tham dự. Hòa nam: tiếng phiên âm từ chữ Phạn, Hán văn dịch là: Khể thủ, nghĩa là chấp tay cúi đầu đảnh lễ.
ÐÐTKPÐ: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
CKVT: Càn Khôn Vũ Trụ.
CKTG: Càn Khôn Thế giới.
CLTG: Cực Lạc Thế giới.
TNHT: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Xem tiếp: Kết