Huệ:
-
慧
-
A: The wisdom, enlightenment.
-
P: La sagesse, l' éclairement.
|
Huệ: Sáng suốt, thông hiểu sự lý, dứt điều mê muội. Người miền Nam đọc là Huệ, người miền Bắc đọc là Tuệ. Huệ, tiếng Phạn là Prajnâ: phiên âm Bát nhã.
Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn thì:
Huệ, ấy là cái đức dụng sáng suốt, thông hiểu sự và lý, dứt điều lầm lạc và mê muội, có lòng quyết định, diệt hết sở nghi. Thường nói: Trí huệ. Trí và Huệ là hai chữ đồng nghĩa, nhưng có khác chút ít: người ta dùng chữ Trí mà nói về thế gian, về sự hữu vi; còn chữ Huệ thì dùng để nói về việc xuất thế gian, việc đạo đức, về lý vô vi mà thôi.
■ Huệ có nhiều bậc:
-
Những ai năng tụng kinh điển, nghe thầy giảng giải đạo lý, ăn ở tinh sạch, bỏ những vui sướng theo thế thường, vừa suy xét tham thiền, thì đã thấy Huệ phát hiện ra nơi mình rồi.
-
Cao hơn nữa, có những bực Huệ của La Hán, Duyên giác, Bồ Tát.
-
Huệ hoàn toàn là cái Huệ của Phật, to lớn và sáng suốt hơn Huệ của các vị đắc đạo. Cái Huệ của Phật, viết theo Phạn: Tát Bà Nhã (Sarvajna), cũng gọi: Nhứt thiết Trí, là Trí Huệ biết tất cả sự vật, hữu vi, vô vi, quá khứ, hiện tại, vị lai.
■ Huệ là một sự học trong Tam Học.
Ba sự tu học là: Giới, Định, Huệ đều quan hệ mật thiết với nhau. Có tu Giới mới sanh Định, nhờ Định mới phát Huệ. Phát Huệ rồi thì dứt mê hoặc, đắc chơn lý.
■ Huệ là một nền hạnh lớn, hạnh thứ sáu trong Lục Độ.
Bồ Tát cần phải trải qua các đời tu cho đủ Lục Độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí Huệ.
Lục Độ đầy đủ thì đưa Bồ Tát lên quả vị Phật.
■ Huệ là một môn trong nhị môn mà Bồ Tát cần phải tu hành: Phước môn và Huệ môn.
Bồ Tát, chẳng những phải tu phước là đem lòng từ mà tế thế độ sanh, lại phải tu Huệ là đọc tụng kinh điển và tham thiền thì mới mau thành Phật. Ấy gọi là Phước Huệ Song Tu.
■ Có Tam Huệ, tức là ba cách phát Huệ:
-
Văn Huệ: Nhờ nghe kinh, đọc kinh mà phát Huệ; nhờ nghe thầy, bạn chỉ dạy mà phát Huệ.
-
Tư Huệ: Nhờ suy xét mà phát Huệ.
-
Tu Huệ: Nhờ tu thiền định mà phát Huệ.

Xem tiếp: Huệ chiếu