Unicode Fonts
|
Mục Lục Tiểu-dẫn
Khái-niệm đaị-cương
Các tiên-khải về Cao-Đài
Sự mở đường chuẩn-bị của Đức Chí-Tôn
Nguyên-nhân khai-sáng Cao-Đài giáo
Đức Chí-Tôn trực-tiếp-lãnh đạo Hội-Thánh
Giai-đoạn tiền-khai Đại-Đạo
Thời kỳ cơ phổ-độ phát-triển rộng-rãi
Giai-đoạn chính-thức hình-thành tôn-giáo Cao-Đài
Đức Chí-Tôn ngưng cơ-bút phổ-độ
Hội-Thánh dời về cơ-sở mới tại làng Long-thành, Tây-Ninh
Thời kỳ toàn-phát
Kết-luận
|
Đạo-lý thì bao-la,
Đạo-pháp lại cao vô-cực.
“Đạo mà Ta biết như lá trong rừng,
nhưng điều Ta nói ra được, chỉ là nắm lá cầm trong tay” Ngài cũng lấy tay mà chỉ
mặt trăng rồi nói rằng : “Kìa là trăng, nhưng tay Ta
không phải là trăng, mà các ngươi hãy theo tay ta chỉ mà tìm thấy
trăng” Câu nầy có ngụ-ý là Lời
nói của Ngài không phải là Đạo, mà hãy nghe theo lời nói của Ngài
mà tìm Đạo. “Đề-cập đến Tôn-giáo chẳng
khác nào đi vẽ dấu chân chim bay trên không-trung “. (Thiên trung
điểu tích, họa giả giai nan : Dấu chân chim bay trên, thợ vẽ nào
cũng khó làm được). Vì lý-do nêu trên mà
chúng tôi cố-gắng sưu-tập một loạt bài tóm-lược những điều sơ-yếu
về Cao-Đài-giáo để tín-hửu chúng ta và con em có một khái-niệm về
Tôn-giáo mà minh đang phụng-thờ, và cung-cấp cho những người tìm-hiểu
Cao-Đài một số tư-liệu cần-thiếât, vi không cần phải uống cạn cả
giòng suối, mà chỉ nếm một ngụm thôi, cũng đủ thưởng-thức cái
hương-vị ngọt-ngào trong lành của nó.

Ngay Đức Thích-Ca khi thuyết
Đạo cũng cho đệ tử biết rằng:
Nói về một Đạo đã khó như
vậy, huống-hồ nói về Cao-Đài-giáo là phải đề cập đến Tam-giáo Ngũ
chi, cho rõ nét thì là một điều thiên nan, vạn nan, khó-khăn gấp nghìn
vạn lần. Nên Chương-Thái-Viêm một Học-giả Trung-hoa đã nói rằng :
Nên việc làm nầy với
mục-đích gợi ý, để giúp chúng ta đi sâu vào mối Đạo Trời bằng
trực-giác của minh, những điểm sau đây không thể nào diễn tả được
tất cả.
Soạn-giả không giữ
bản-quyền, khuyến-khich mọi sự trích-dịch, in-ấn phổ-biến dưới bất-kỳ
hình thức nào, và kính xin quý Bậc Cao-nhân trong Đạo góp ý sửa-chữa,
bổ-túc để tài-liệu được súc-tích sáng-sủa hơn, hầu xiển-dương
giáo-pháp phổ-tế chúng-sanh.

Đạo Cao-đài là một
tôn-giáo do Đức Chí-tôn Ngọc-Hoàng Thượng-Đế khai-sáng ở Việt-nam từ
năm 1926, còn có danh-xưng là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, có nghĩa là một
nền Đạo lớn cứu-rổi nhân-loại lần thứ ba. Khi vừa khai mở thì đã
phát-triển nhanh-chóng, đến nay đã có hơn năm triệu tín-đồ, trên khắp
thế-giới, là do Thiên-ý an-bài và Thiên-cơ vận-chuyển, chứ không
phải do ý muốn của phàm-tâm, hoăïc do những việc làm tình-cờ, lộng
giả thành chơn, như một vài người đã lầm-tưởng và xuyên-tạc.
Trong tiểu-luận này chỉ nêu
lên những nét sơ-lượt về Cao-Đài, từ khi khai-phát cho đến nay, tuy qua
bao nhiêu sóng gió vùi-dập hải-hùng, nhưng con thuyền cứu-độ vẫn cập
nhiều bến đổ vinh-quang. Cội Đạo đã có một sức sống hào-hùng, không
những đâm rễ sâu vào lòng đất vữõng-vàng trên Thánh-địa Việt-nam,
mà còn đang đâm chồi nẩy lộc tỏa bóng ra Năm-Châu Bốn-Bể. Sự-kiện
nầy, cho chúng ta càng thêm tin-tưởng rằng không có một sức mạnh,
một quyền-lực nào của trần-gian, có thể chống-phá nỗi sức mạnh của
Cội-Nguồn Đạo-Đức siêu-linh.

Sự ra đời của
Cao-Đài-giáo cũng đã được các tiên-khải dự-ngôn bởi nhiều tôn-giáo
đã được Thượng-Đế khai-sáng trước đây:
- Khi Đức Thế-tôn Thích-Ca
sắp viên-tịch đã dự-ngôn rằng :
“ Ta chẳng phải vị Phật đầu-tiên hay vị Phật cuối cùng, mà sau Ta vào thời-kỳ cuối cùng của đạo-pháp (mạt-pháp) sẽ có một Đấng lớn hơn Ta xuất-hiện, Đấng Chí-Tháùnh Đại-giáùc độc-nhất vô-song, cực-kỳ cao-thượng. Đấng Chúa-Tể cả Thần Thánh và nhân-loại. Đấng đó sẽ phổ-truyền một nền Đạo vinh-diệu lúc sơ-khai, vinh-diệu lúc thịnh-hành và vinh-diệu cả buổi chung cuộc.”
Tiên-khải nầy đã được
chép trong Phật-tông nguyên-lý.
Đến khi khai Đạo Cao-Đài Đức
Thích-Ca đã giáng cơ nhắc lại với các môn-đồ Phật-tử như sau :
“ Tam-Kỳ Phổ-Độ hoằng-khai, nơI Tây-phương Cực-lạc và Ngọc-Hư-Cung mật-chiếu đã truyền siêu-rỗi chúng-sanh. Trong Phật-tông nguyên-lý đã cho biết trước đến buổi hôm nay rồi; tại Tăng-đồ không kiếm chơn-lý mà hiểu” (TNHT/Q1/19/giòng 24-27)
- Chúa Jésus cũng đã
dự-ngôn trong hai nghìn năm Chúa sẽ tái-lâm, và khuyên con chiên của
Ngài hãy nhận biết những điềm báo trước :
* Chừng đó sẽ có những điềm
trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Các quyền-lực trên trời bị
lay chuyển. Dưới đất muôn dân sẽ lo-lắng hoang-mang trước cảnh biển
gào song thét, hải-hùng đón nhận những tai-ương giáng xuống địa cấu.
Bấy giờ thiên-hạ sẽ thấy con người đầy quyền năng và vinh-quang ngự
trong đám mây mà đến.(Lc.281:25-27)
Chúa cũng khuyên mọi
dân-sự của Ngài hãy tỉnh thức, cầu-nguyện và chờø-đón ngày giờ
Chúa đến một cách bất thần:
* Ngày ấy đến một cách bất
thần, như mẻ lưới chụp xuống trên mọi dân cư khắp trên mặt đất
(Lc,281:34-36)
* Một cách bất thần như kẻ
trộm ban đêm. Lúc ấy tai-họa sẽ thình-lình ập xuống cho mọi kẻ tội
lõõi. (Tx.5,1-2) .
- Đạo Minh-Sư ở Trung-hoa
khoản nâm 1650 vào cuối nhà Minh đầu Nhà Thanh cũng có câu
sấm-truyền có đề-cập đến Cao-Đài :
“CAO như Bắc-khuyết
nhân chiêm-ngưỡng,
“ ĐÀI tại Nam phương đạo thống
truyền.
Câu nầy đã tiên-báo cho việc khai-sáng Đạo Cao-Đài ở phương nam Trung-hoa. Bởi các tiên-tri nầy, mà khi Đạo mới khai, đa-số Chức-sắc và tín-đồ Đạo Minh-sư đã nhậâp-môn vào Cao-Đài.
- Trong Minh Thánh kinh linh
sám (còn gọi là Kinh Ôâng Quan-Thánh Đế-Quân) có câu :
“ Mạng hữu Cao-Đài
minh nguyệt chiếu” (Uy danh của Đức Cao-Đài sáng tỏ như trăng soi)
- Trong Thanh-tịnh kinh của Lão giáo có câu tiên-tri :
“ Công viên quả mãn
chỉ thọ đơn thơ.
Thiên-mạmg phương khả
truyền Đai-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ.”
(Công quả đủ đầy sẽ đươc thọ
lãnh Đơn-thơ.
Người có thiên-mạng khá nên
truyền bá Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ).
- Giáo-sư Tiến-sĩ Sergei
Blagov (Nga) trong tác-phẩm The Caodai: A new Religious Movement (Đạo
Cao-Đài: một tôn-giáo mới) cũng đã sưu-tập các câu đề-cập đến
những tiên-khải của Cao-Đài như :
“ Những đặc-tính Cao-Đài được tìm
thấy trong bản tiếng Trung quốc của Hội Thánh-kinh Anh-quồc và nước
ngoài” (The characters Cao-Đài could be found in the Chinese edition of
the British and Foreign Biblical Society)

Trước khi khai-sáng Cao-Đài-giáo, Thượng-Đếâ đãù chuẩn-bị mở lối đưa đường cho Tôn-chỉ Quy Tam-giáo Hiệp Ngũ- chi, để cho loài người biết trước. Nên Ngài đã giáng dạy như sau:
“ Thầy chưa giáng cơ lập Đạo tại nước Nam, chớ chư Thấn, Thánh, Tiên, Phật dùng huyền-diệu nầy mà truyền đạo cùng vạn quốc” (TNHT/Q1/trang 51/Ấn bản Nhâm-tý/1972),
- Vào thế kỷ XV bên Trung-hoa
có Đạo-sĩ Ngô-Chí-Hạc lập ra Phái Tam-Thanh thờ ba Giáo-chủ lớn là
Đức Thích-ca, Lão-Tử và Khổng-Tử.
- Vào năm 1862 tại Iran, Baha Ulla sáng lập đạo Bahai, chủ-trương tôn-giáo Đại-đồng.
- Vào năm 1875 Bà
Blavatsky (Nga) và Đại-tá Olcott (Mỹ) đã thành-lập Hội
Thông-Thiên-học (Theosophy) một cơ-quan quốc-tế nghiên cứu Tôn-giáo
với ba mục-đích:
a)- Gây tình huynh-đễ
đại-đồng giữa nhân-loại không phân-biệt nòi-giống, giai-cấp,
tôn-giáo, tín-ngưỡng và nam nữ.
b)- Khuyến-khích
nghiên-cứu các tôn-giáo, triết-lý và khoa-học.
c)- Nghiên-cứu những
định-luật thiên-nhiên chưa giải được và những quyền-năng ẩn-tàng
trong con người
Tiêu-ngữ của
Thông-Thiên-Học :
“Không tôn-giáo nào
qua chân-lý”
Với phương-châm đề cao
tinh-thần quy-nhứt, và coi các tôn-giáo là những đứa con có cùng một
nguồn-gốc, mục-đích tạo một thế-giới đại-đồng huynh-đệ.
- Vào năm 1907 Hội Thần-linh-học và Thông-linh-học ở Châu Ââu chủ-trương dung-hòa các giáo-thuyết Á, Âu (Do-Thái-giáo, Ki-tô-giáo, Hồi-giáo, và Nho-giáo, Lão-giáo, Phật-giáo).
- Khoản năm Canh-thân (1920) hầu hết các đàn cơ tại các Đạo Minh-sư, Minh-lý, Minh-đường, Minh-tân, Minh-thiện, tuy là mỗi giáo-phái hoạt-động riêng rẻ không liên-hệ với nhau, nhưng cũng đồng loạt được các Đấng Thiêng-liêng giáng cơ thông-báo về sự xuất-hiện của Kỷ-nguyên Cao-Đài.
- Đạo Đại-Bản (Oomoto) một tôn-giáo khai mở vào năm 1894 tại Nhật-bản. Trong khi Đạo Cao-đài khai mở tại Việt-nam cuối năm 1926, thì vào năm 1927 cơ-bút của Đạo nầy cũng báo cho tín-đồ của họ biết rằng ở Việt-nam vừa xuất-hiện một tôn-giáo, mặc áo dài trắng, thờ một con mắt trái, biểu-hiện của thái-dương-hệ, và dạy họ hãy sang Việt-nam để liên-lạc tìm-hiểu. Sau đó vào năm 1935 Ông Isao Deguchi lúc này Ông còn là tín-đồ được phái sang Việt-nam để liên-lạc tìm hiểu về Cao-Đài và ôâng cũng đã có hội-kiến với Ngài Thái Đầu-sư Nguyễn-Ngoc-Thơ tại Bạch-Vân-am ở Phú-lâm. Tới năm 1956 Ôâng Isao Deguchi đã trở thành Giáo-chủ của Đạo này, cũng có sang lại Việt-nam để dự Lễ khánh-thành đền thờ Cao-Đài (Trung-Hưng Bửu-Tòa) ở Đà-nẳng, và cũng có đến thăm viếng Tòa-Thánh Tây-ninh. Ngoài ra nhiều tín-đồ và chức-sắc của Đạo nầy có liên-lạc với Cao-Đài-giáo nhiều lần để tìm hiểu Đạo-lý.
- Vào ngày 13 tháng 11 năm 1931 Đức Thánh Cha GODWIN Trưởng lão Tổng Giáo-hội Eùglise Gnostique Đức-quốc, đã gởi văn-thư cho Hội-Thánh Cao-Đài Tây-ninh, cho biết rằng họ đã quyết-định chuẩn-bị liên-hợp với Cao-Đài-giáo để tổ-chức các Giáo-hội Cao-Đài tại các quốc-gia phương Tây.
- Vào khoản năm 1936 và
1937 Hội Thần-bí Triết-học tại Đức có liên-lạc với Hội-Thánh
Cao-Đài Tây-ninh xin cung-cấp cho họ giáo-lý Đạo Cao-Đài để họ
nghiên-cứu tìm-hiểu.
Cũng do hai sự-kiện liên-hệ với
Đức và Nhựt hoàn-toàn với lý-do Tôn-giáo nêu trên, mà chính-quyền
thực-dân Pháp lúc bây giờ nghi-ngờ là liên-hệ với họ vì mưu-đồ
chính-trị, cho đến ngày nay cũng còn những cây-bút vin vào sự-kiện đó
mà vu-khống cho Cao-Đài là thân với phe phát-xít Đức Nhật.
Các sự-kiện tiền-khải dự-báo chuẩn-bị cho sự xuất-hiện của Đạo Cao-Đài nêu trên rất là nhiều, để tài-liệu được cân-đối, chúng tôi chỉ nêu lên một số sự-kiện tiêu-biểu, chứng-minh rằng sự xuất-hiện của Cao-Đài là do Thiên-ý, chứ không phải do sự bày đặt đùa dởn với Thần Thánh của những kẻ có phàm-tâm tục-tánh.

Khi khai-đạo Đức Chí-tôn đã cho biết nguyên-nhân rằng:
“ Vốn từ trước Thầy lập ra
Ngũ-chi Đại-đạo là Nhơn-Đạo, Thần-Đạo, Thánh-Đạo, Tiên-Đạo,
Phật-Đạo. Tùy theo phong-hóa của nhân-loại mà gầy chánh-giáo, là
vì khi trước Càn vô đác khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn-loại duy
có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.
Còn nay thì nhân-loại đã
hiệp-đồng, Càn Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều Đạo ấy mà,
nhơn-loại nghịch lẫn nhau; nên Thầy mới nhứt-định quy-nguyên phục
nhứt. (TNHT/QI/trang 16/giòng 5-16)
Như vậy Đức Chí-Tôn cho
biết, trước đây nhơn-loại chưa tiếp-xúc rộng-rãi, mà chỉ liên-hệ
trong một địa-phương nhỏ hẹp quanh mình, nên các Đấng Giáo-chủ tùy theo
trình-độ của dân-trí và những tội-lỗi phổ-biến, những tà-thuyết sai
lầm của mỗi vùng, mỗi thời-kỳ mà gầy chánh-giáo, để họ dễ bề thu
nạp, cốt để giáo-hóa nhơn-sanh trong địa-phương của thời kỳ đó, biết
điều-chỉnh những sai-trái lỗi-lầm phổ-biến trong phạm-vi của mỗi vùng
mà thôi. Chứ các Đấng Giáo-chủ không bao giờ đề-cập hay phản-kháng
đến các tôn-giáo đang khai-sáng ở một phương trời khác, mà dân-chúng
vùng đó chưa hề biết đền. Chắc-chắn rằng Chúa Jésus chưa bao giờ
nói Phật-giáo là ngoại đạo, hoặc Đức Phật cho Thiên-chúa-giáo là
tà-giáo, và Giáo-chủ Mohammed không bao giờ dạy giáo-đồ của Ngài xem
các tượng Phật là hình tượng phi Hồi-giáo cần phải triệt hạ bao giờ.
Phải chăng Chúa và Phật chỉ ngăn cấm những tà thuyết mê hoặc chúng
sanh đang lưu-hành trong vùng, ngay khi còn sanh-tiền của Chúa hoặc Phật
mà thôi.
Ngày nay nhơn-loại đã
tiếp-xúc rộng-rãi với nhau, nên các Tôn-giáo cũng truyền-bá
đồng-loạt ra khắp thế-giới, nên do những bất-đồøng trong giáo-lý,
giáo-luật, nên một số tín-đồ cực-đoan, đã dựa vào lời dạy của các
Đấng Giáo-chủ, ứng dụng trong một vùng đất hạn-hẹp cổ xưa, suy diễn
ra mà chống-đối lẫn nhau, có khi rất là tàn-khốc. Tỷ như hai chữ
“Quốc Đạo” là ước mơ của các Đấng Giáo-chủ muốn cho chúng-sanh trong
phạm-vi đất nước của Ngài, tuân theo giáo-ly,ù giáo-luật của Ngài,
để xa lánh mọi tội lỗi đang lưu-hành quanh vùng, trong thời-điểm của
Ngàiù mà thôi. Nhưng ngày nay nhiều tín-đồ cực đoan của một số
tôn-giáo lại muốn cho tôn giáo của minh chiếm vị thế độc tôn trong
một đất nước có nhiều tín-ngưỡng khác nhau, do đó mà gây ra sự đối
nghịch trầm-trọng.
Nên lần khai Đạo nầy Đức
Chí-Tôn không mở một tôn-giáo mới, không có một giáo-lý khác lạ,ï
hay xoá bỏ những Tôn-giáo đã phổ-truyền trước đây, mà tái-lập một
sự Cứu-rỗi cho toàn nhân-loại lần thứ ba, tôn-chỉ là Tam-giáo
quy-nguyên, Ngũ-chi phục-nhứt, với mục-tiêu đưa nhân-loại đến
hòa-bình, dân-chủ và tự-do, xây-dựng một Thiên-Đạo Giải-thoát, một
Thế-Đạo Đại-đồng, để vô-hiệu-hoá những sự thù nghịch giữa các
tôn-giáo với nhau, hầu cho con cái của Ngài dưới thế-gian biết nhìn
nhau là anh em cùng chung một Đấng Cha Lành, để cùng chung sống trong
một sự hòa-bình vĩnh-cửu.

Đối với các Tôn-giáo đã
xuất-hiện trước đây, đều theo thông-lệ là do một Vị Giáo-chủ
giáng-trần lập nên. Tùy theo dân-trí của mỗi địa-phương, mỗi thời-đại
mà truyền Đạo, dân-chúng nơi đó nương theo giáo-lý của Vì Giáo-chủ
lập ra mà tu-hành. Như thế là Đạo từ các Giáo-chủ hửu-hình
truyến-bá, người đời theo đó mà tìm về với Đạo. Còn đối với
Cao-Đài-giáo lại do Thượng-Đếâ giáng-linh dùng cơ-bút thâu-nhận
đệ-tử để truyền-bá Đạo Trời xuống thế-gian, tức là Đạo từ vô-vi
mà phổ-truyền vào nhân-thế, tức là Đạo tìm đến với người đời. Đức
Chí-Tôn lại trực-tiếp lãnh-đạo Hội-Thánh.
Nguyên-nhân điều nầy Đức
Chí-Tôn đã dạy rằng:
“ Trước Thầy giao
Chánh-giáo cho tay phám, càng ngày lại càng xa Thánh-giáo mà làm
ra Phàm-giáo. Thầy lấy làm đau đớn , hằng thấy gần trót mười
ngàn năm, nhân-loại phải sa vào nơi tội lỗi , mạt kiếp chốn A-tỳ.
Thầy nhứt-định chính mình Thầy
độ rỗi các con, chẳng chịu giao Chán-giáo cho tay phàm nữa. (TNHT/Q.1/tr.18)
Theo Thánh-giáo trích dẫn
trên đây cho chúng ta thấy rằng :
- Các Tôn-giáo trước kia do
các Vì Giáo-chủ mang xác-phàm nắm trọn phần hồn và phần xác con
người, ngày nay Thánh-ý Đức Chí-Tôn không giao chánh-giáo cho tay phàm,
để cho mối Đạo dù có lâu ngày cũng khỏi trở nên phàm-giáo, và
không để con-cái Chí-Tôn khỏi bị sa vào vòng áp-chế của những nhà
lãnh-đạo cực-đoan, khi sự cứu-rỗi của tôn-giáo đó không còn hợp
với trình-độ tiến-hoá của nhân-loại. Tỷ như cựu-luật của một số
tôn-giáo vẫn còn duy-trì sự phân-biệt giai-cấp, kỳ-thị tín-ngưỡng,
trọng nam khinh nữ, tức là phần đông con cái Đức Chí-Tôn đã bị sa vào
vòng áp-bức bấc công.Vì thế ngày nay Thượng-Đế lại cho phép
Cao-Đài-giáo để nhơn-sanh tự lập Tân-luật cho phù-hợp với trình-độ
tiến-hóa của loài người, hầu bảo-đảm được quyền bình-đẳng, tự-do,
dân-chủ của chúng-sanh, thực-hiện lý-tưởng huynh-đệ đại-đồng. Trong
Tam-Kỳ Phổ-Độ Thượng-Đế còn ban cho loài người có quyền sửa đổi
Luật-lệ để phù-hợp với từng giai-đoạn tiến-hoá của mình, đây cũng
là một điều mang tính Thiên-khải mới-mẻ trong sự tương-quan giữa
Thượng-Đế và Con người của Cao-Đài-giáo.
- Đức Chí-Tôn muốn cho con
cái của Ngài dùng cơ-bút học hỏi trực-tiếp đạo-mầu bằng chính sinh-ngữ
của thời-đại minh, để cho dù lâu đời chánh-giáo cũng không bị
sai-lạc chân-truyềnù. Vì Đức Chí-Tôn đã tiên-lương rằng Cao-Đài-giáo
sẽ lưu-truyền đến thất ức niên (700.000 năm). Trong hiện-tại chúng ta
thấy chỉ mới trong vòng ba bốn nghìn năm, mà kinh-điển các tôn-giáo
viết bằng ngôn-ngữ từ thời-đại các Vì Giáo-chủ, đến nay đã trở
thành cổ-ngữ, ngay người Trung-quốc ngày nay mà đọc Kinh Dịch của
Nho-giáo hoặc Đạo-Đức-kinh của Lão-giáo họ không hiểu gì cả. Cũng
như thế-hệ ngày nay mà đọc Kinh Thánh bằng tiếng Hébrews nào có ai
hiểu. Còn việc dịch và giải-nghĩa kinh sách của người đời sau thì mỗi
dịch-giả tùy theo khuynh-hướng và định-kiến của họ mà diễn-giải, có
khi đi xa lời dạy của các Giáo-chủ, vì đó mà chánh-giáo lâu đời sẽ
bị sai lạc chơn-truyền.
- Còn một nguyên-nhân
chính-yếu là Đức Chí-Tôn, chỉ dùng cơ-bút để quy-tụ lương-sanh
thành-lập Hội-Thánh, tượng-trưng cho Thánh-thể của Ngài hầu cứu vớt
quần-sanh, là để tránh sự giáng-trần trong buổi Tam-kỳ Phổ-Độ. Vì
ngày nay sự liên-hệ giữa bốn biển xem như láng-giềng, thế-giới chỉ
là một làng mạc nhỏ bé, nhưng con người vẫn còn phân-biệt chủng-tộc,
kỳ-thị tôn-giáo. Do đó nếu chọn một vị Giáo-chủ thuộc sắc dân nầy,
thì sắc dân khác không tùng-phục. Ngay đến biểu-tượng thờ-phụng
Thượng-Đế, Ngài cũng dạy thờ Thiên-nhãn (con mắt) tượng-trưng cho
thần-minh tức là thờ Ngài, vì không thể có một con người thuộc một
sắc dân nào có thể tượng-trưng đầy-đủ được hình-ảnh của Thượng-Đế,
mà Thánh-thể của Ngài là toàn cả Vũ-trụ và vạn-hửu chúng-sanh,
nếu thờ Ngài bằng hình-tượng một con người, thì không đủ sức
thuyết-phục, để cho mọi sắc dân chiêm-ngưỡng. Do đó việc thờ
Thượng-Đế bằng Thiên-nhãn ngoài ý nghĩa cao-siêu mà con người chưa
thể hiểu được, cũng còn mang tính-chất tâm-lý tránh kỳ-thị sắc-tộâc
nầy.
Cho nên thời-kỳ mở đạo này,
Đức Chí-Tôn chiêu-tập lương-sanh của các dân-tộc, lập thành
Hội-Thánh, cùng chúng-sanh của các sắc dân để làm Thánh-thể của
Ngài, Hội-Thánh là đầu nảo, chúng-sanh là tay chân máu thịt, để sự
giáo-truyền không bị ngăn-ngại, và cũng đúng với tiên-tri của Chúa
Jésus rằng:
“Bấy giờ thiên-hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền-năng và vinh-quang, ngự trong đám mây mà đến” (Lc.291:25-27).

Trong quá-trình chuẩn-bị
khai Đạo, vào thời-kỳ tiềm-ẩn Thượng-Đế giáng-linh thâu-nhận những
môn-đồ đầu tiên, chúng ta có thể chia ra làm hai giai-đoạn phân-biệt
như sau:
1)- Thượng-Đế xưng là
Cao-Đài Tiên-Ôâng Đại Bồ-tát Ma-ha-tát thâu nhận Quan-phủ
Ngô-Văn-Chiêu làm môn-đồ đầu tiên .
- Ngài Ngô-Văn-Chiêu cầu cơ
thỉnh Tiên :
Cầu cơ là một phương-tiện
giao-tiếp với cỏi siêu-linh sẵn có tại phương đông từ lâu đời. Vào
năm 1902 Ngài Ngô-Văn-Chiêu đang làm việc tại Sài-gòn, có đến đàn
cầu cơ tại Thủ-dầu-một để thỉnh Tiên cầu thọ cho thân-mẫu và hỏi
về tương-lai, thì Tiên-ông giáng cho Ngài một bài kệ khuyên Ngài lo
tu-hành ngày sau sẽ đắc đạo. Đến năm 1917 Ngài thi đổ ngạch Tri-huyện,
nhằm lúc thân-mẫu Ngài lâm trọng bệnh, nên Ngài đến đàn cơ
Hiệp-minh ở Cái-khế, Cần-thơ đặng cầu xin thuốc, mẫu-thân Ngài mạnh
giỏi được vài năm, sau đó đau trở lại, Ngài có tới lại đàn cơ
Hiệp-minh, lần nào Ngài cũng được Tiên-ông giáng cho thi-phú dạy đạo
và khuyên Ngài lo tu-hành. Cuối năm 1919 thân-mẫu Ngài ly-trần, vào
ngày 1-3-1920 Ngài được lịnh bổ đến Hà-tiên, khi đến nơi nầy Ngài
thường lên núi Thạch-động cầu Tiên, thì có vị Tiên-cô Ngô-Kim-Liên
giáng cho mấy bài thơ, khuyên Ngài ráng lo tu-hành.
- Ngài Ngô-Văn-Chiêu đổi đến
đảo Phú quốc và ngộ Đạo tại đây:
Ngày 26-10-1920 Ngài
Ngô-Văn-Chiêu đổi đến đảo Phú-quốc. Tại đây Ngài cũng tiếp-tục
cầu cơ thỉnh Tiên, có một vị Tiên-ông giáng cơ không chịu xưng tên,
dạy Ngài chịu làm đệ-tử thì Tiên-ông sẽ dạy Đao cho và khuyên Ngài
ngưng tụng Minh-Thánh kinh, và dạy Ngài ăn chay mỗi tháng mười ngày,
nhưng Ngài còn đang do-dự chưa quyết-đoán, vì nghĩ rằng đương làm quan,
thực hiện thập trai rất khó khăn, nhưng nếu đắc đạo thì cũng cố-gắng
được, còn nếu không gặp đạo mà còn phải sinh tử luân hồi, thì thà
ăn chay hai ngày mỗi tháng mà làm phải làm lành vẫn hơn.
Trong tâm Ngài suy nghĩ như
vậy, định bạch lại với Tiên-ông, thì trong một đàn cơ kế đó,
Tiên-ông giáng, Ngài chưa kịp hỏi điều gì thì Tiên-ông hạ lịnh : “
Chiêu tam niên trường trai”. Ngài lấy làm bối-rối, vì nghĩ rằng chưa
chịu ăn mười ngày, mà nay Tiên ông lại bảo ăn chay trường ba năm,
Ngài mới bạch rằng :
”Tiên-ông đã dạy thì đệ tử phải vâng, song xin Tiên-ông phò-trì, và nếu đệ-tử vâng lời thì Tiên-ông phải cho thấy chứng quả gì mới được”
Từ ngày 8-2-1921 trở điù
Ngài thực-hiện trường-trai, Tiên-ông đã giáng cơ truyền phép tu-luyện,
và khuyên Ngài giữ bí-truyền cho đến ngày đạo khai, ngày đó thì Tiên
ông sẽ dạy. Từ đó Tiên-ông cũng đã hiện ra cảnh Bồng-lai ở chân
trời biển đông như Ngài ước nguyện, cho Ngài thấy để thêm lòng tin-tưởng
học đạo. Sau đó Tiên-ông cũng hiện ra hình Thiên-nhãn và dạy Ngài
làm biểu-tượng thờ-phượng, Tiên-ông xưng là “Cao-Đài Tiên-ông Đại
Bồ-tát Ma-ha-tát” và dạy Ngài Ngô-văn-Chiêu gọi Tiên-ông bằng Thầy.
Từ năm 1921 trở đi Ngài tu
theo phương-pháp bí-truyền, chỉ có mình Ngài biết. Sau đó vào này
30-07-1924 Ngài đổi về Sài-gòn cũng vẫn tiếp tục tu-luyện, đến gần
cuối năm Ất-sửu (1925) Đức Cao-Đài mới dạy Ngài đem mối Đạo truyền
ra, nên Ngài đã độ được bốn ông : Quan-phủ Vương-Quan-Kỳ,ông phán
Nguyễn-Văn-Hoài, ông phán Võ-Văn-Sang, ông đốc-học Đoàn-Văn-Bản.
Sau đó các ông này cũng có độ thêm một số đệ-tử nữa cùng tu-luyện
với Ngài, nhưng những hoạt-động giai-đoạn nầy còn trong phạm-vi một
nhóm tu-chơn tịnh-luyện, chứ chưa phát-triển thành một Tôn-giáo.
2)- Thượng-Đế xưng là
Ngọc-Hoàng Thượng-Đế viết Cao-Đài Giáo Đạo Nam phương, thâu nhận các
Ông Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao-hoài-Sang làm đệ-tử.
- Xây bàn theo
Thông-linh-học Tây-phương.
Vào khoản năm 1924-1925 tạïi
Sài-gòn có phong-trào xây bàn theo Thông-linh-học của Tây-phương, đây
cũng là một cách giao-tiếp với cỏi vô-hinh, phong-trào nầy đang
phát-triển lan-tràn rộng rãi khắp nơi, được đa số trí-thức người
Việt-nam thuộc thành-phần Tây-học, làm công-chức cho Pháp tham-gia.
Trong số nầy có các Ngài Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao-Hoài-Sang
thường họp nhau xây bàn thỉnh các vong-linh quá-cố về xướng họa
thi-thơ, và tìm hiểu về thế-giới vô-hình, cùng hỏi về tương-lai
vận-mạng của mình và của dân-tộc. Trong khi tiếp-xúc cũng được các
vong-linh xướng-họa những vần thơ tuyệt-tác, cũng như cho những tiên-tri,
sau đó họ thấy được ứng-nghiệm, những thân-nhân đã ly-trần về cho
biết những điềâøu riêng tư khi còn sinh-tiền, làm cho những vị nầy
càng thêm tin tưởng...Một hôm có một chơn-linh giáng cơ xưng là
Đoàn-Ngọc-Quế gặp-gở xướng-họa và kết-nghĩa làm bạn thi-văn cùng
tâm-sự với các Vị nêu trên, về sau mới được biết đó là chơn-linh
Thất-nương (Bà Tiên thứ bảy của Diêu-Trì-Cung) nên Bà được xem như
là người khêu ngọn đuốc đầu tiên của Cao-Đài-giáo, nên trong Kinh
xưng-tung công-đức có câu:
“ Thất-Nương
khêu đuốc Đạo đầu,
Nhờ Người gợi ánh
nhiệm-mầu huyền-vi.
Từ đó về sau được các vị
Tiên-Nương ở Diêu-Trì-Cung thường xuyên giáng-cơ dạy Đạo và xướng-họa
thi-thơ rất là hứng-thú, một hôm có một chơn-linh giáng đàn với một
điển-lực mạnh-mẽ khác thường, nhưng không chịu xưng danh thực mà chỉ
xưng là A ĂÂ tiếp-xúc với các Ngài.
- Thiết lễ Hội-yến
Diêu-trì :
Vào khoản trung-thu Ất-sửu (1925)
Các Đấng dạy ba Vị soạn một yến-tiệc đãi các Đấng thiêng-liêng,
bằng cách một lập bàn thờ đủ lễ phẩm trang-nghiêm để cung thỉnh
Phật-mẫu, dưới cóø một bàn lớn với chín chiếc ghế, đầy đủ hoa quả
phẩm-vật tiếp chín Vị Tiên nương, Trong ngày trung-thu đó các Ngài đã
chuẩn bị chu-tất, đến giờ Tý đêm rằm 15 tháng 08 Ất-sửu (1-9-1925)
các Ngài đem ngọc-cơ ra cầu trước bàn thờ quả-nhiên có Phật-mẫu và
Cửu Vị Tiên-nương cùng Thần Tiên giáng dự Hội-yến. Ba Ngài
Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc và Cao-Hoài-Sang chỉ ngồi bên cạnh chín
chiếc ghế, để dự tiệc và hòa đàn hiến lễ. Như vậy trong yến-tiệc
nầy phần vô-vi có Phật-Mẫu cùng Cửu vị Tiên nương phần hửu-hình có
ba Ngài. Khi yến-tiệc xong, ba Vị tái cầu thì được các Đấng cho biết
trong khi hội-yến có nhiều thần, tiên và cả Ông AĂÂ tham-dự, và
Ông cho biết : “Ta ở đây từ lúc ban sơ “. Ngày nay hằng năm
điễn lễ nầy cũng được Hội-Thánh Cao-Đài tổ-chức lại để kỷ-niệm,
với một quy-mô trang-trọng hơn, tại Đền thờ Phật-mẫu ở Thánh-địa
Tây-ninh có vô-số tín-đồ các nơi về tham-dự.
- Tổ-chức lễ Vọng Thiên
cầu Đạo :
Đến ngày 30 tháng 10 năm Aát-sửu
(15/12/1925) Đấng AĂÂ đó dạy chư Vị là vào ngày 1 tháng 11 này
(16-12-1925) phải vọng Thiên cầu Đạo, lại dạy ba Vị tắm gội tinh-khiết
đêm đó ra giữa sân quỳ giữa trời cầm mỗi người ba cây nhan mà vái
rằng:
“Ba tôi Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao-Hoài-Sang vọng bái Cao-Đài Thượng-Đế ban ơn đủ phước lành cho ba tôi cải tà quy chánh”
Đương-nhiên lúc nầy các Vị
mù-tịt chưa biết Cao-Đài là gì. Mãi đến đêm Noel năm 1925, Ôâng A Ă Â
mới cho biết chính Ngài là Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng-Đế. Ngài
đến để lập Đạo Cao-Đài. Ngài xưng danh đầy đủ là:“Ngọc-Hoàng
Thượng-Đế viết Cao-Đài Giáo Đạo Nam Phương”
Đến bây giờ các Ngài mới biết
chơn-linh AĂÂ trước đây là Thượng-Đế. Vì trước đây Thượng-Đế phải
ẩn danh, xưng là A Ă Â, hạ minh làm một chơn-linh tầm-thường để dễ
bề cảm-hóa đệ-tử, nếu tiết-lộ sớm e rằng các đệ-tử sợ-hải không
dám tiếp-xúc học hỏi.
Từ đó Đức Chí-Tôn thường
giáng cơ dạy đạo, thâu nhận đệ-tử, chính Ngài Lê-Văn-Trung cũng được
Đức Chí-Tôn dạy hai Ngài Phạm-Công-Tắc và Cao-Quỳnh-Cư đem ngọc-cơ
đến tận nhà để Đức Chí-Tôn giáng cơ thâu nhận Ngài Lê-Văn-Trung làm
đệ-tử. Đức Chí-Tôn cũng dạy nhóm này dùng biểu-tượng Thiên-nhãn để
thờ phụng Ngài.
3) Đức Chí-Tôn kết-hợp hai
nhóm Cao-Đài làm một.
Khoản tháng 01-1926 Đức
Chí-Tôn dạy quý Ngài Trung, Cư, Tắc, Sang liên-lạc với nhóm Cao-Đài
của Quan-phủ Ngô-Văn-Chiêu để tìm hiểu thêm chi-tiềt nghi-thức
thờ-tự và kết-hợp với nhau để truyền-giáo. Giai-đoạn nầy Thượng-Đế
đã thâu nhận được mười hai môn-đồ đầu-tiên. Thượng-Đế còn dạy Ngài
Ngô-Văn-Chiêu làm Anh Cả, như vậy là Ngài Ngô-Văn-Chiêu là trưởng
nhóm môn-đồ của Đức Chí-Tôn, chứ chưa phải là Giáo-tông chánh-vị, vì
Cao-Đài lúc này chưa hình- thành một Tôn-giáo.
Vào đêm Lễ Vía Đức Chí-Tôn lần
đầu tiên 09/ 01 Bính-dần (21-02-1926) thiết Lễ tại nhà Ngài
Vương-Quang-Kỳ số 80 đường Lagrandière Sài-gòn.
Đức Chí-Tôn đã giáng-cơ cho bốn câu
thơ sau đây :
Bửu tòa thơ-thới trổ thêm
hoa,
Mấy nhánh rồi sau cũng một
nhà.
Chung hiệp rán vun nền
đạo-đức,
Bền lòng son sắt đến cùng Ta.
Sau đó Ngài Ngô-văn-Chiêu bạch với Đức Chí-Tôn xin một vần thơ điểm danh chung cho những người đang có mặt, Đức Chí-tôn liền ban cho bài thi gồm đủ tên các Vị có mặt hôm đó như sau:
CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn
HOÀI sanh,
BẢN đạo khai SANG QÚI GIẢNG
thành,
HẬU ĐỨC TẮC CƯ thiên địa
cảnh,
HUỜN MINH MÂN đáo thủ đài
danh.
Mười hai chữ lớn trong ba
câu trên là tên của mười hai môn-đồ đầu tiên của Đức Ngọc-Hoàng
Thượng-Đế, còn ba chữ đứng câu chót là tên ba vị hầu đàn. Ba người
nầy là bạn của Ngài Vương-Quang-Kỳ.
Giai-đoạn chuẩn-bị nầy kéo
dài trên năm năm, đây là thời-gian Thượng-Đế huấn-luyện đông-tử,
dùng cơ bút qua trung-gian của Đồng-tử để thâu-nhận và giáo-hóa
môn-đồ làm nòng-cốt cho nền Đạo xuất-hiện.
Vì lý-do có hai giai-đoạn
thâu-nhận đệ-tử trong thời-kỳ tiềm-ẩn nêu trên, mà tôn-giáo nầy
mới có hai danh-xưng Cao-Đài, hoặc là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
CÁC ÂN-SŨNG CỦA THƯỢNG-ĐẾ
BAN CHO CÁC MÔN-ĐỒ TRONG THỜI-KỲ
TIỀM-ẨN.
Giai-đoạn nầy tùy theo
căn-cơ và phận-mạng của từng người mà Thượng-Đế ban cho những
đặêc-ân khác nhau để họ nhận biết và tin-tưởng nơi Ngài. Đức Chí-Tôn
đã dành cho mỗõi môn-đồ một ân-sủng đặc-biệt như :
- Đối với người trí-thức thì
được trực-tiếp thảo-luận với Tiên Ôâng, học thêm nhiều giáo-huấn
chân-thành, kể chuyện quá khứ không sai, bàn chuyện hiện-tại
chính-xác, cho những tiên-tri tương-lai gần xa ứng-nghiệm, gây nên bầu
không-khí huyền-vi, gợi thêm ở họ một niềm-tin sắt đá vào
hiện-tượng siêu-linh.
- Những tao-nhân mặc-khách,
tài-tử văn-nhân, ưa thi-thơ thì được trực-tiếp xướng-họa với các
vong-linh, được quý Tiên cô, Tiên ông kết làm bầu-bạn xướng-họa
những vần thơ tụyệt-tác, tạo thành mối duyên thơ kỳ-ngộ.
- Ngay những viên-chức
sen-đầm, lính-kín do nhà cầm-quyền Pháp cho xâm-nhập các đàn-cơ để dò-la
tin-tức, nắm tình-hình, cũng đã được Ơn Trên điểm tên, rồi họ cũng
hết dám theo-dỏi mà lại trở thành những môn-đồ ngoan Đạo.
- Còn đối với giới bình-dân
thì người hỏi gia-đạo được toại lòng, kẻ cầu thuốc thang, được khỏi
bịnh, các chứng nan-y được chửa lành, làm cho kẻ mù được sáng ,
người liệt được đi lại. . .
- Thậm chí cơ-bút còn gọi
tên từng người xa lạ lẫn trong đám đôngï, hoặc trả lời thỏa-mãn cho
những kẻ hiếu-kỳ, hồ-nghi muốn thử-thách thiệt hư, chơn giả.
Sự-kiện nầy gây thêm niềm
tin rào-rạt nơi mọi người, có một số sự-kiện trong nhiều trường-hợp
đặc-biệt như sau :
- Trường-hợp Quan-phủ
Ngô-Văn-Chiêu Thương-Đế đã giáng-cơ cho thuốc chửa lành bệnh
thân-mẫu của Ôâng và hiện ra Thiên-nhãn và cảnh Bồng-lai cho Ông
thấy.
- Trường-hợp Ngài
Lê-Văn-Trung đang làm quan-chức cao-cấp, thế mà Thương-Đế dạy hai Ngài
Cao-Quỳnh-Cư và Phạm-Công-Tắc đem ngọc-cơ đến nhà để Thượng-Đế giáng
chỉ dạy, đây là một việc làm khá khó-khăn đối với hai Ngài, vì Ngài
Lê-Văn-Trung là một Nghị-viên của Hội-đồng Thượng-viện là một
quan-chức cao-cấp rất quyền-thế, mà hai Ngài Cao-Quỳnh-Cư và
Phạm-Công-Tắc lại chưa từng quen biết bao-giờ, thế mà do đức tin
mạnh-mẽ nên hai Ngài tuân-hành, khi đến nơi cũng được Ngàiø
Lê-Văn-Trung ân-cần đón-tiếp và sùng-kính Đức Cao-Đài ngay tức khắc,
đồng-thời Thượng-Đề cũng ban cho Ngài Lê-Văn-Trung ân-sủng chửa lành
được đôi mắt bị bệnh lòa từ lâu, tuy đã chạy chửa nhiều Thầy thuốc
nhưng không khỏi.
- Trưòng-hợp Ngài
Trần-Duy-Nghĩa, Thượng-Đế dạy Ngàiø Phạm-Công-Tắc đi tìm, và chỉ cho
biết là ở tỉnh Gò-công mà thôi, trong lúc Ngài chưa đến tỉnh nầy
bao-giờ và cũng chưa quen biết với ai ở đây, nhưng vì đức tin mà vâng
lịnh ra đi, quả-nhiên đến Gò-công hỏi thăm đến ngay nhà, thấy một
người đứng trước thềm và nói : ”Tôi là Trần-Duy-Nghĩa đây”. Sau đó
thì Ngài Trần-Duy-Nghĩa đã trọn hiến-thân hành Đạo.
- Cũng như Thượng-Đế đã dùng
cơ-bút để hướng-dẫn hai nhóm môn-đồ đầu-tiên chưa hề quen biết nhau,
đã gặp-gở hợp-tác với nhau chung lo mở Đạo.
Nhờ sự huyền-linh như vậy,
mà nền Đạo loan-truyền ra rất nhanh, và phát-triển mau lẹ, chứ không
phải như một số người cho rằng Cao-đài là một tôn-giáo được
thiết-lập do sự tình-cờ, từ các trò chơi giải-trí xây-bàn cầu cơ mà
có.
Có người cho rằng tại sao
ngày nay Thượng-Đế không còn làm phép lạ nữa, việc nầy cũng dễ
hiểu, là khi nhân-loại còn ấu-trỉ thì Thượng-Đế và các Đấng
Thiêng-liêng xuất-hiện để đặt một nền móng căn-bản hầu hướng-dẫn
loài người. Đến khi nhân-loại trưởng thành thì phải tự-lập, tự
sử-dụng khả năng suy đoán của mình và phải chịu trách-nhiệm về hành-
tàng của minh. Đây cũng là một lẽ công-bình thiêng-liêng, vì nếu
Thượng-Đế tiếp-tục làm phép lạ, thì đếân kẻ gian-ác họ cũng phải
giật mình, như vậy sẽ mất lẽ công-bình không còn lành siêu dữ đoạ
nữa. Nên khi mở Tam-kỳ Phổ-độ, Đức Chí-Tôn đã dùng cơ-bút để
trực-tiếp thâu nhận đệ-tử và ban những huyền-diệu cho đệ-tử trong
thời-gian ban đầu, sau đó thì Ngài ngưng cơ bút phổ-độ, cũng nằm trong
lý do đó.

(Kể từ ngày 9/1/ Bính-dần (21-02-1926) trở đi)
- Thiên-phong Giáo-tông :
Vào khoản tháng 4/1926 (Bính-dần)
Đức Chí-Tôn dạy ba Ngài Trung, Cư, Tắc đến gặp Ngài Ngô-Văn-Chiêu
nói về việc may Thiên-phục Giáo-tông cho Ngài.
Vào ngày Chủ-nhật
18-04-1926 (Bính-dần) Đức Chí-Tôn cũng giáng dạy và vẽ kiểu áo mão
thiên-phục Giáo-tông cho Bà Hương-Hiếu may. Nhưng Ngài Ngô-Văn-Chiêu
từ-chối không nhận ngôi Giáo-tông, tuy vậy Ngài Ngô-Văn-Chiêu cũng
gởi tiền phí tổn để may bộ thiên-phục nầy, nhưng Ngài không mặc áo
Giáo-tông lần nào.
Đức Chí-Tôn Tấn-phong
các chức-sắc đầu tiên và hành-pháp trục-chơn-thần Ngài
Phạm-Công-Tắc ra khỏi xác thân để cho chon-linh Hộ-Pháp giáng ngự:
Vào đêm 11 rạng 12 tháng 3
Bính dần (22/23-04-1926) tại nhà riêng Ngài Lê-Văn-Trung Đức Chí-tôn
dạy sắp đặt lễ Thiên-phong như sau :
Trong đem nầy Đức Chí-Tôn
phong cho các Ngài :
- Lê-Văn-Trung phẩm Đààu-sư
Thượng-Trung-Nhựt.
- Lê-Văn-Lịch phẩâm Đầu-sư Ngọc-Lịch
Nguyệt .
Hai phẩm Thiên-phong nầy chỉ
tuyên thệ trước bàn Ngũ lôi mà thôi.
Lễ hành-pháp huyền-linh dành cho Hộ-pháp. Thánh-giáo Đức Chí-Tôn dạy như sau :
“ Cư nghe dặn : Con biễu Tắc
tắm rửa sạch-sẽ xông hương cho nó, bảo nó lựa một bộ quần áo tây
sạch-sẽ, ăn-mặc như thường, đội nón. . .
Cưới ! Đáng lẽ nó phải sắm
khôi giáp như hát bội, mà mắc nó nghèo, Thầy không biểu.
Bắt nó lên đứng trên ngó mặt
vô ngay ngôi Giáo-tông, lấy chín tấc vải điều đắp mặt nó lại.
Lịch ! Con viết một lá phù
“Giáng-ma-xử” đưa cho nó cầm. (TNHT/Q1/trng 16).
. . .
“ Biểu Tắc leo lên bàn . Con
chấp bút bằng nhang. Đến bàn Ngũ lôi đạng Thầy triệu nò đến , rồi
mới trước mặt Tắc, đặng Thầy trục xuất chơn-thần nó ra , nhớ biểu
Hậu, Đức, xông hương tay củ chúng nó, như em có giựt mình té thì
đở”.(TNHT/Q1/Trang 16)
Đây là một cuộc hành-pháp huyền-linh của Đức Chí-tôn trục chơn-thần Ngài Phạm-Công-Tắc ra khỏi xác thân để chơn-linh Hộ-Pháp giáng ngự, và Ngài Phạm-Công-Tắùc trở thành Hộ-Pháp, đây là một trường-hợp giáng-linh ngự-thể.
Vào đêm 14 rạng ngày 15 tháng 3 Bính-dần nhằm ngày 25-26/4/1926 Đức Chí-Tôn giáng cơ phong tiếp :
“ - Cư, phong vi Tá cơ Tiên
Hạt Đạo-sĩ.
- Tắc, phong vi Hộ-giá
Tiên-đồng Tá-cơ Đạo-sĩ.
- Đức, Hậu, phong vi Tiên Hạt
phò cơ Đạo sĩ.
. . . (Thánh-ngôn Hiệp-tuyển
quyển 1 trang 19).
Trong các kỳ đàn kế-tiếp
Đức Chí-Tôn dạy kiểu-mẫu may phẩm-phục cho cho các chức sắc. Còn
chức vụ Hộ-Pháp, Thượng-Phẩm và Thượng-Sanh phong ngày nào thì không
thấy các Thánh-giáo trong Thánh-ngôn hiệp tuyển chép lại, cũng như
Đạo sử đã xuất-bản không ghi rõ.
Về sau khi lập Pháp-chánh-truyền
Đức Chí-Tôn đã ấn-định quyền-năng và nhiệm vụ của mỗi vị.
Riêng Đức Hộ-Pháp cũng đã được
Đức Chí-Tôn giáng bút, truyền-bí pháp của Đạo, trong đó có pháp-môn
tu-luyện, và giao cho Ngài nắm cơ mầu nhiệm của Đạo, bảo thủ và
truyền lai cho tín-đồ, và đời sau, còn có trách- nhiệm giữ gìn
chơn-thần của người luyện đạo. Đức Chí-Tôn cho biết sự kiện này trong
một đoạn Thánh-giáo dạy về chơn-thần như sau :
“. . .Chơn-thần là nhị xác
thân các con, là khí chất nó bao bọc ngoài thân thể như khuôn bọc
vậy, nơi trung-tâm của nó là óc, nơi cừa xuất-nhập là mỏ ác, gọi
tiếng chữ là Vi-hộ, nơi ấy Hộ-pháp hằng đứng giữ-gìn chơn linh các
con khi luyện đạo đặng hiệp một với khí, rồi khí mới thấu đến
chơn-thần hiệp một mà siêu-phàm nhập thánh” (TNHT/Q II/tr. 65)
Vào ngày 24-04-1926 (Bính-dần) Đức Chí-Tôn giáng dạy về tôn-chỉ Tam-giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhứt của Cao-Đài, và cũng ngày này Ngài Ngô-Văn-Chiêu chính-thức tách rời, không còn tham-gia cơ phổ-độ nữa, mà chỉ lo phần tu-luyện theo hướng nội-giáo tâm-truyền đã được Đức Cao-Đài ban cho Ngài trước đây, vì vậy Ngài không đứng tên trong tờ khai đạo sau nầy. Sau đó Ngài lập nên Phái Chiếu-Minh vô-vi. Cũng vì lý-do nầy về sau một số môn-đồ cho rằng bí-pháp tu-luyện chỉ có Phái nầy đắc chơn-truyền. Còn Toà-Thánh Tây-ninh chỉ lo phần Phổ-độ, không có bí-pháp tu-luyện. Nhưng sự thực thì Đức Chí-Tôn đã ban cho Hội-Thánh trọn cả hai phần thể-pháp và bí-pháp. Phần thể-pháp hay là cơ phổ-độ tiếp-dẫn con cái Đức Chì-Tôn vào cửa Đạo, để lánh dữ làm lành, lập công bồi đức, rồi giai-đoạn tiếp theo là thọ bí-pháp tu-luyện để siêu phàm nhập thánh, hầu tròn câu tân-dộ chúng sanh, nên trong giai-đoạn phát triển của nền Đạo Đức Hộ-Pháp đã lập ra các trung-tâm tinh-luyện đó là Trí-Huệ cung, Trí-giác cung, còn trung tâm thứ ba là Vạn-pháp cung chỉ mới phát-hoạ chưa xây cất được .
Khi Ngài Ngô-văn-Chiêu không nhận ngôi Giáo-tông, thì Đức Chí-Tôn giao phẩm-vị Giáo-Tông cho Đức Lý-Thái-Bạch (một vị Tiên-trưởng trên Thiên-cung) đảm trách, gọi là Giáo-tông vô-vi, đến ngày 17/ 03 Quý-dậu (01-04-1933) Đức Lý Giáo-tông giáng cơ phong cho Ngài Thượng-Đầu-sư Thượng-Trung-Nhựt làm Quyền Giáo-tông phần hửu hình, lo cơ phổ-độ chúng-sanh, còn phần chánh-vị thiêng-liêng vẫn do Đức Lý-Thái-Bạch chưởng-quản.

1)- Công-bố tuyên-ngôn
khai Đạo:
Qua hơn năm năm phổ-độ, số
tín-đồ nhập-môn càng ngày càng đông, tuy ngoài mặt nhà cầm-quyền
Pháp vẫn im-lặng làm-ngơ để Cao-Đài hoạt-động, nhưng bên trong họ đã
ngấm-ngầm theo dỏi tất-cả sinh-hoạt của Cao-Đài, những Vị lãnh-đạo
Cao-Đài đã thừa biết sự hiểm-ác trong chốn quan-trường, nên họ không
thể không tìm cách hợp-thức-hóa cho cộng-đoàn Cao-Đài, được tự-do
hoạt-động công-khai. Vì họ biết rằng dù sống trong một chính-thể nào,
mình có chống đối mặc lòng, nhưng cũng phải phục-tùng luật-pháp của
chế-độ đó.
Vào ngày 23 tháng 08 năm
Bính-dần (nhằm ngày Thứ tư 29/09/1926) một cuộc họp gồm 247 đạo-hửu
tại nhà ông Nguyễn-Văn-Tường, Thông-phán Sở Tuần-cảnh Sài-gòn,
cuộc họp dưới quyền chủ-tọa của hai Ngài Lê-Văn-Trung và
Lê-Văn-Lịch, bàn việc hợp-thức-hóa nền Đạo ra công-khai, và để
đạo-hửu ký tên vào Tịch-Đạo, cùng soạn-thảo tờ Khai-đạo gởi cho nhà
Cầm-quyền Pháp. Đến ngày 01 tháng 09 Bính-dần Tờ Khai Đạo do 28 vị
cầm-quyền Đạo đại-diện cho 247 tín-đồ, đồng ký tên vào tờ khai Đạo
bằng Pháp-văn, do Ngài Lê-Văn-Trung soạn-thảo. Điều nầy tuy là do
nhơn-ý nhưng cũng đã được Đức Chí-Tôn chấp-thuận và phê-duyệt. Tờ
Khai-Đạo được gởi lên cho Quan Thống-đốc Nam-kỳ lúc đó là Ôâng Le
Fol. Đây là một tờ tuyên-ngôn khai-sáng một Tôn-giáo lấy tên là
Phật-giáo Chấn-hưng hay là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ, chứ không phải là
một tờ đơn xin phép với chính-quyền để mở một hiệp-hội bình-thường do
luật-pháp quy-định.
Sự-kiện nầy ngay những
giới-chức cầm quyền người Pháp, họ cũng xem đây là một tờ
Tuyên-ngôn, vì chỉ đính-kèm một bản sao các Thánh-ngôn của Thượng-Đế
dạy liên-quan đến việc lập Đạo, bản sao Kinh-nguyện, và một tờ
Đạo-tịch mà thôi, còn nếu là một đơn xin lập hội, thì phải đính kèm
nào là Điều-lệ, Nội-quy, còn phải còn có nhiều hồ-sơ đính-kèm khác
v.v...Tuy các nhà lãnh-đạo Cao-Đài lúc bấy-giờ đã khôn-ngoan, là
không xin phép mà tuyên-bố rằng sẽ hoạt-động khắp hoàn-cầu. Nhưng
Nhà Cầm-quyền Pháp cũng khôn-ngoan không kém, họ vẫn giữ thái-độ
im-lặng, không tuyên-bố thừa-nhận hay phản-đối bản tuyên-ngôn nầy,
do đóø họ cũng không cấp giấy phép hoạt-động, để khỏi gánh chịu
trách-nhiệm về sau.
Sau đó Hội-Thánh cũng gởi tuyên-cáo đền các vị Hoàng-Đế, Tổng-thống, Nguyên-thủ quốc-gia, của các nươc trên thế-giới, cùng nhờ các Cơ-quan truyền-thông báo-chi các hiệp-hội khắp thế-giới thông-báo về sự khai-sáng nền Đai-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ trên đất nước Việt-nam. Nhờ vậy mà thời-điểm nầy nhà cầm-quyền thuộc-địa Pháp không có lý-do ngăn-cản, mà để Cao-đài truyền-bá tự-do.
2)- Lễ Khai-Đạo diễn ra
tại Từ-Lâm-Tự, Gò Kén Tây-ninh:
Vào ngày 14 tháng 10 năm
Bính-dần ((18/11/1926) Các vị lãnh-đạo thiết-lễ Khai-Đạo tại chùa
Từ-Lâm-Tự ở Gò-Kén, Tây-ninh. Đây là một ngôi chùa Phật-giáo
thuộc phái Đạo Thiền, do Ngài Hòa-Thượng Như-Nhãn làm trụ-trì, đứùng
ra lạc-quyên xây cất chưa hoàn-thành, chỉ mới vỏn-vẹn có ngôi
chánh-điện, chứ chưa có các cơ-sở phụ như đông tây lang, nhà Tăng,
nhà khách và đường sá vào chùa, nhưng Ngài Như-Nhãn và một số
tín-đồ của Ngài nhập-môn vào Cao-Đài, nên giao cho Đạo mượn làm
cơ-sở đầu-tiên của Tôn-giáo Cao-Đài. Cũng có ý nhờ bàn tay của
Hội-Thánh Cao-Đài, để tiếp-tục xây cất cho hoàn-tất ngôi chùa được
tráng-lệ khang-trang, và thâm-ý là hy-vọng sau nầy mối Đạo cũng
quy-nguyên về Phật-giáo.
Trong ba tháng nền Đạo đặt
cơ-sở Trung-ương tại đây, cũng trong thời-gian nầy Đức Chí-Tôn đã
giáng-cơ lập Pháp Chánh-truyền (Hiến-pháp của Đạo), tấn-phong
Giáo-phẩm thành-lập Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài, Hiệp-Thiên-Đài để làm
Thánh-thể của Ngài tại thế, và dạy Hội-Thánh lập Tân-luật để dâng
lên Thiêng-liêng phê-chuẩn.

Trong thời-kỳ tiền khai Đạo Cao-Đài, Thương-Đế đã giáng-linh dùng cơ bút thâu nhận lương-sanh lập thành Thánh-thể của Ngài tại thề-gian để cứu-độä quần-sanh. Chúng ta cũng cần biết thêm rằøng vào khoản tháng 06 năm 1927 (Đinh-mão), tức là Đức Chí-Tôn ban lịnh không dùng cơ-bút để trực-tiếp thâu-nhận từng môn-đồ, như ở giai-đoạn chuẩn-bị cho nền Đạo xuất-phát trước đây, mà công việc phổ-độ chúng-sanh giao lại cho Hội-Thánh Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ căn-cứ vào Pháp-Chánh-Truyền, Tân-Luật và Thánh-ngôn, Thánh-giáo dạy về tôn-chỉ, mục-đích và đường-lối tu-hành, do Đức Chí-Tôn và các Đấng Thiêng-liêng giáng cơ chỉ-giáo cho trước đây, để làm nền-tảng phổ-độ chúng-sanh nhập-môn cầu Đạo và giáo-hóa họ biết làm lành lánh dữ. Còn cơ-bút chỉ để dùng cho những trường-hợp đặc-biệt có liên-quan đến Đạo-pháp mà Hội-Thánh không thể giải-quyết được mà thôi.

Tại chùa Từ-lâm-Tự nền
Đạo đã chính-thức xuất-hiện có lễ-nghi tế-tự trang-nghiêm, hoạt-động
truyến-bá có quy-củ. Tất-cả đều do một Hội-Thánh, nắm Luật-Pháp
điều-hành nguồn máy Đạo, nền Đạo đã ra thiệt-tướng.
Sau ba tháng đặït cơ-sở Đạo
tại đây, tín-đồ càng ngày càng đông, trên 40 vạn người. Các sinh-hoạt
lễ-bái của Cao-Đài-giáo lại khác với Phật-giáo, nên nhiều
Hòa-Thượng và Phật-tử không quy-nguyên Đại-Đạo, thấy Cao-Đài
phát-triển quá nhanh chóng, sợ lấn-át mất quyền-lợi của mình, nên
nổi lên phản-đối mạnh-mẽ, đồng-thời cũng do sự xúi-dục của nhà
cầm-quyền Pháp, buộc Hòa-Thượng Như-Nhãn gấp-rúc đòi lại chùa.
Nên Hội-Thánh đã được cơ
bút Thiêng-liêng hướng-dẫn các chức-sắc lãnh-đạo, đến tìm mua lại
một khu đất 96 mâõu, còn rừng rậm hoang-vu, của một Pháp-kiều làm
nghiệp-chủ tại làng Long-thành. Nên cơ-sở Trung-ương của Đạo dời về
nơi nầy. Tại đây Hội- Thánh đã xây cất Đền-Thánh và các dinh-thự
để làm cơ-quan Trung-ương của Tôn-giáo Cao-Đài truyền-bá mối Đạo Trời
trên khắp thế-gian, hiện nay đã trở thành nội-ô Thánh-địa Cao-Đài.

Cho đến ngày nay Đạo
Cao-Đài trở thành một tôn-giáo lớn có hơn năm triệu tín-đồ đang
hoạt-động tích-cực tại Việt-nam và trên khắp thế-giớià. Cơ-sở
Trung-ương đặt ở tỉnh Tây-ninh gọi là Tòa-Thánh Tây-ninh. Từ một khu
rừng rậm hoang-vu chỉ có 96 mẫu nay là nội-ô Thánh-địa, sau đó nhờ mua
thêm và khai-khẩn, đến nay đã trở thành một Giáo-khu rộng 20.363 mẫu,
có một cộng-đoàn giáo-dân trên 200.000 người, về mặt tôn-giáo đã
trở thành một Châu-thành Thánh-địa với đô-thị đông-đúc trù-phú, chia
ra 18 Phận Đạo, về hành-chánh là một quận huyện, (đây là con số
thống-kê từ năm 1966), lớn hơn gấp 20 lần dân-số cả tỉnh Tây-ninh,
khi Đạo chưa khai mở dân số cả tỉnh chỉ có 10.000 người mà thôi.
Tôn-giáo Cao-Đài đã có một
hệ-thống tổ-chức hành-chánh Đạo khá chặc-chẽ, từ Trung-ương đến
địa-phương, chia ra Trấn-Đao (gồm có nhiều tỉnh), Châu Đạo (tỉnh) Tộc Đao
hay Họ Đạo (quận,huyện) Hương Đạo (Xã). Đó là hệ-thống điều-hành
trong quốc-nội. Còn ở Hải-ngoại thì trước đây có một Hội-Thánh
ngoại-giáo (Mission Eùtrangere) Trung-ương đặt tai Phnom-Penh (Cambodge).
Cũng vì nhìn thấy một tổ-chức quy-củ chặc-chẽ nầy, mà những thế-lực
chống-đối của thực-dân, phong-kiến đã vu-khống rằng Cao-Đài là một
tổ-chức chinh-trị, mưu-đồ lập một quốc-gia trong một quốc-gia. Nhưng dù
cho bất kể quyền-lực nào, muốn hay không muốn, thì Thánh-ý của Đức
Chí-Tôn cũng sẽ đặt Thánh-địa Cao-Đài trở thành một nơi Quốc-tế-hóa
như Thánh-địa Vatican (Ý) của Giáo-hội Thiên-Chúa-giáo La-mã, nơi nầy
sẽ không chịu sự thúc-phược của bất-cứ một quyền-lực nào của
thế-gian, điều nầy sớm muộn gì cũng sẽ được hiện-thực mà thôi.
Hiện nay hệ-thống
hành-chánh-đạo chỉ còn có hai cấp là Tòa-Thánh Tây-ninh và hương xã,
nhưng ngay cả Bàn Trị-sự Hương Đạo cũng đổi thành một Tổ Nghi-lễ, tuy
vậy Theo Pháp-Chánh-Truyền, Bàn Trị-sự là Hội-Thánh em, nên dù thế
nào đi nữa, thì sinh-hoạt cùng sứ-mạmg và quyền-lực của Hội-Thánh em
vẫn không thay đổi, đây là nền-móng căn-bản của Đạo, như là cội rễ
đã ăn sâu vào lòng đất, không có thể đào bứng hết đi được. Còn sự
Truyền-giáo Hải-ngoại hiện nay tuy là Hội-Thánh Trung-ương Cao-Đài
không còn liên-hệ với tín-đồ nước ngoài, nhưng vẫn có Cơ-quan
Truyền-giáo Cao-Đài Hải-ngoại, bản-doanh đặt tại Maryland Hoa-kỳ
đảm-trách việc truyền-giáo, tổ-chức này đã được Cơ-quan
Liên-Hiệp-Quốc thừa-nhận, Cơ-quan Truyền-giáo Cao-Đài đang chen vai sát
cánh với các Tôn-giáo bạn và các Tổ-chức Quốc-tế, để truyền- bá
Tôn-giáo trên toàn cầu. Còn sự Truyền-giáo Hải-ngoại hiện nay tuy
là Hội-Thánh Trung-ương Cao-Đài không còn liên-hệ với tín-đồ nước
ngoài, nhưng vẫn có các Thánh-Thất , các Hội Tín Hữu Cao-Đài ở Hoa
Kỳ, Âu Châu, Úc Đại Lợi, Nhật Bản và đặc biệt là Cơ-quan
Truyền-giáo Cao-Đài đang chen vai sát cánh với các Tôn-giáo bạn và
các Tổ-chức Quốc-tế, để truyền- bá Tôn-giáo trên toàn cầu.

Để chúng ta nắm vững vấn đề một cách tổng thể chúng tôi xin tóm lược một số điểm cốt lỏi sau đây:
1.- Tín-niệm căn-bản
về Thượng-Đế:
Các tôn-giáo tín-ngưỡng
Thượng-Đế cũng như Cao-Đài-giáo đã tin-tưởng rằng : Thượng-Đế là
Đấng tự-hửu, hằng-hửu, sáng-tạo ra thế-gian và vạn-hửu chúng sanh.
2.- Tín-niệm căn-bản về
chúng sanh:
Con người và vạn-hửu
chúng-sanh do Thượng-Đế tạo-dựng theo hình-ảnh và khuôn-linh của Ngài,
Ngài lại ban cho chúng-sanh sự độc-lập trước Thượng-Đế, có toàn
quyền tự-dọ dìu-dắt thiên-lương của minh để tấn-hoá. Nếu ăn ở hiền
lành thì được thăng tiến, ăn ở hung dữ thì sa-đoạ.
3.- Cao-Đài-giáo
khai-sáng có những mục-tiêu rõ-ràng :
Qua lý-do khai-đạo cùng
tôn-chỉ mục-đích của Đạo Cao-Đái, nhắm mục-tiêu xây-dựng một
thế-giới đại-đồng, một xã-hội hòa-binh, dân-chủ, tự-do. Nội-dung
nầy nằm trong ý-nghĩa hai câu liễng trước cổng Chánh-môn vào Đền
Thánh:
“Cao thượng Chí-Tôn Đại-Đạo
Hòa-binh Dân-chủ mục,
“Đài tiền sùng-bái Tam-kỳ
cọng-hưởng Tự-do quyền.
Đạo còn nâng cao dân-trí, giúp cho con người biết làm tròn thiên-chức của mình, vì Thánh ngôn có câu :
“ Nâng niu cho dân-trí
lẫy-lừng.
Dân thì đúùng phận làm
dân,
Chúa cho đáng chúa triều
thần đáng quan.”
(Nữ trung tùng phận).
Nên trong hơn nửa thế kỷ,
các thế-hệ Cao-Đài đã sản-sinh nhiều bậc trí-thức tài-ba, nhiều
Giáo-sư Tiến-sĩ con nhà Đạo, họ đã từng mang chuông đi đấm nước ngoài,
và cũng đã được thế-giới ca-ngợi, thán-phục. Cũng như có nhiều
người ngoại-quốc đã và đang nghiên-cứu Cao-Đài, họ đã bảo-vệ
thành-công các Luận-án Cao-Đài, trở thành những Giáo-sư Tiến-sĩ
Cao-Đài-giáo.
Như vậy Tôn-giáo Tôn-giáo Cao-Đài
được Thượng-Đế sáng-lập có phân ra từng giai-đoạn, có sự diễn-tiến
tuần-tự một cách logic, và có một mục-tiêu rõ-ràng, nói theo
lập-luân của duy-vật biện-chứng là có đủ cả điều-kiện chủ-quan và
khách-quan. Đạo không chỉ nhắm thỏa-mãn những nhu-cầu cấp-thiết của
chỉ một quốc-gia nhỏ bé Việt-nam, mà cho cả xã-hội loài người.
4.- Đạo ra đời do
Thiên-ý an-bài, không phải là tinh-cờ, hoặc do lộng giả thành chơn.
Sự khai-sáng Đạo Cao-Đài là
do Thiên-ý của Thương-Đế, Ngài đã thâu-nhận dìu-dắc đệ-tử hơn cả
năm sáu năm trời, vì người xưa có câu:
”Trò tìm Thầy thì dễ, Thầy tìm trò lại rất gay” (Đệ tử tầm sư dị, sư tầm đệ tử nan).
Do đó mà Đúc Chí-Tôn phải
hạ minh dẫn dắc từng người, đây không phải là điều tinh-cờ. Vì Đức
Chí-Tôn ngự trong lòng mỗi người, Ngài còn biết chúng ta hơn là chúng
ta tự biết minh nữa. Nên Đức Chí-Tôn đã giáng-ngự vào các tâm-hồn
thanh-cao, dù là chỉ sự giải-trí của họ đi nữa, họ cũng tìm trong
những thú vui tao-nhã, đây là một điều chứng tỏ Đức Chí-Tôn soi thấu
tâm-hồn của mỗi người, nên Ngài đã lựa-chọn đệ-tử không lầm.
Dù cho là do tinh-cờ mà các
đệ-tử gặp được Thầy đi nữa, thì chính người đệ-tử đó cũng phải có
thiện-căn, mới quyết-tâm tìm Đạo. Vì khi Thượng-Đế tạo ra con người,
Ngài đã ban cho con người có quyền độc-lập trước Thượng-Đế, là một
hửu-thể tự-do, có quyền dìu-dắùc thiên-lương của mình, quyết-định
sồ-phận siêu đọa của mình, chứ Thượïng-Đế là Đấng công-binh, không
bao-giờ áp-đặt. Chúng ta đã từng thấy bao nhiêu sự phát-minh
sáng-tạo của nhân-loại, cũng chỉ là sự tinh-cờ, nhưng nếu con người
ngu-đần không cố-gắng, thành-tâm, thiện-chí thì cũng bỏ trôi mà thôi,
tỷ như về lãnh vực khoa-hoc :
- Archimedes khi tình-cờ đi tắm,
mà không quan-tâm đến phản-ứng của nước, thì làm sao tìm định-luật về
sức đẩy của nước.
- Newton tình-cờ thấy quả táo rơi,
mà không động nảo thì làm sao khám-phá ra định-luật vạn-vật hấp-dẫn.
- Vua Phục-Hy khi tình-cờ nhìn
thấy nét vằn trên lưng con ngựa hoang, xuất-hiện trên bờ sông
Hoàng-hà, mà không chịu suy-tư, thì làm sao khám-phá ra môn Hà-đồ
Bát-quái và sự biến-hóa của Dịch-lý, làm cơ-sở cho nền khọa-hoc
nhân-văn phương Đông.
Thậm-chí con người còn phải
có tinh-thần đại-hùng, đại-lưc, hy-sinh cả cuộc đời mình cho nhân-loại
thì mới tạo đươc sự-nghiệp vĩ-đại phụng-sự chúng-sanh và lưu-truyền
hậu thế như :
- Đức Thích-Ca tuy tình-cờ nhìn thấy
bốn nỗi khổ : sinh, lão, binh, tử của con người, mà không chịu bỏ
ngôi Thái-tử cao-sang, nhịn đói, nhịn khát ngồi tham-thiền dưới cội
bồ-đề thì làm sao tìm ra phương giải-thoát tứ khổ cho chúng-sanh.
- Chúa Jésus cùng các tông-đồ,
tình-cờ thấy tội-lỗi của chúng sanh, mà không chịu hy-sinh mạng sống
của mình thi làm gì có đươc con đường cứu-rỗi cho nhân-loại.
Cũng như vậy, dù cho những
môn-đồ đầu-tiên của Đức Cao-Đài tình-cờ được tiếp-xúc với
Thượng-Đế đi nữa, nhưng các Ngài ham công-danh, mê phú-quý, không chịu
xả-thân cầu Đạo, thì làm gì khai-sáng nên Đạo Cao-Đài để phổ-độ
chúng-sanh. Nên yếu-tố quyết-tâm của con người luôn là yếu- tố
quyết-định thành-bại cho mọi vấn-đề.
5.- Thượng-Đế đã
khai-sáng Đại-Đạo Tam-KyØ Phổ-Độ Tam-kỳ Phổ-Độ có một học-thuyết,
một giáo-pháp vừa hợp Thiên-lý, vừa cận Nhân-sinh, vừa Huyền-linh,
vừa Khoa-học.
Đường-hướng của Đại-Đạo là
chương-trình kế-hoạch của Thượng-Đế dìu dằt cứu-vớt loài người ra
khỏi tội-lỗi. Nó rất thực-tế, khả-thi, hợp với nhu-cầu của
thời-đại và trình-độ tiến-hóa của con người ngày nay, không mơ-hồ
viễn-ảo, hay mộng-mị dị-đoan.
6.- Khi khai-sáng Đạo
Cao-Đài không hề dựa vào một quyền lực nào của thế-gian, không hề
có sự xin phép nhà Cầm-quyền.
Khi khai đạo Hội-Thánh
Cao-Đài chỉ gởi cho nhà cầm-quyền Pháp một tờ khai đạo, xem như một
bản tuyên-ngôn Khai Đạo, đểû xác-nhận quyền công-khai hoạt-động
hợp-pháp của minh trên toàn cầu, vì thế lúc đó nhà cầm-quyền Pháp
cũng không cấp giấy phép hoạt-động, và họ cũng không bao-giờ hứa
yểm-trợ bất-cứ điều gì. Vì dù muốn hay không họ cũng phải để cho
Cao-Đài hoạt-động theo công-pháp quốc-tế mà thôi.
Tất-cả nhận-định nêu trên,
đã phân-tách cho chúng ta rõ-ràng giúp cho chúng ta thấy rằng mối
Đạo Trời khai-sáng, không bị chi-phối bởi một quyền-lực hửu-hình nào
của thế-gian, mà động-cơ lập-giáo của Thượng-Đế là nhằm tạo cho
thế-gian chủ-nghĩa Đại-đồng, với Tôn-chỉ là :
“Tam-giáo quy nguyên, Ngũ chi phục nhứt”
Cốt làm cho các Tôn-giáo đang lưu-hành trên thế-gian, biết tìm trở lại cội-nguồn sơ-khởi của mình, để cùng nhìn nhau từ một gốc sinh ra, và để nhân-loại biết nhìn nhau như con một cha, hầu chung sống với nhau một cách hòa-binh, không còn hận-thù, chiến-tranh, mà chỉ còn cọng-yêu, hòa-ái, hầu kiến-tạo một xã-hội thái-bình, đó là Thiên-ý, mà cũng là lý-tưởng của loài người tiến-bộ hiện nay đang theo đuổi.
CHUNG
